Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

GIÓ LÀO QUẢNG TRỊ

Đụn rơm được xây sau vụ mùa thu hoạch

GIÓ LÀO CÁT TRẮNG HẢI LĂNG

          Gió tây nam nó ảnh hưởng từ tỉnh Hà Tỉnh vào đến một phần của tỉnh Thừa Thiên,Hằng năm sau thu hoạch vụ mùa bà con nông dân lo gieo cấy vụ trái (vụ hè thu)trời nắng gay gắt người bứt toóc  người cày kẻ cuốc để đất khô cho côn trùng chết bớt và đốt cháy hai bên giường ruộng để vụ sau mới hạn chế sâu bệnh mất mùa , gieo cấy xong là người nông dân bắt đầu có kế hoạch chống hạn nhiều năm hạn hán kéo dài ở đồng vườn* xe đạp nước phải đặt hai ba dội mới đưa được nước lên ruộng,những năm 1956 đến năm 1976 của thế kỉ 20 thời tiết năm nào cũng bốn mùa rỏ rệt xuân hạ thu đông bước qua tháng 4 âm lịch là bắt đầu gió nam thổi mạnh sau thu hoạch vụ mùa về sau này gọi là vụ đông xuân .
         Ở Quảng Trị thường gọi là gió lào) làm cho đồng khô cỏ cháy,hói hà khô cạn tre pheo khô trắng,gió thâu đêm suốt sáng tôi còn nhớ những năm 60 gió lào đến cấp 7 cấp 8 nguồn nước sông cạn kiệt nước mặn lên đến cầu Mỹ chánh không có nước ngọt để tưới cho đồng ruộng mùa màng mất trắng bà con thiếu ăn phải nhờ đến cứu trợ của chính quyền.
        Đến mùa gió nam thổi dân làng sợ nhất là cháy nhà vì nhà nào cũng có một đụn rơm để làm chất đốt có nhà nuôi trâu bò nhiều phải xây đến hai ba đụn rơm rất to để dự trử chất đốt và cho trâu bò ăn vào mùa mưa rét,nếu không may sơ suất mà lửa cháy đầu làng là lan cháy cả làng không trở tay kịp vì hầu hết là nhà tranh nên gió thổi mạnh từ nhà này sang nhà kế bên lửa cháy  nhanh như chớp không có nước mà cứu hỏa gia đình nào cũng tranh thủ chuyền những thứ cần thiết như áo quần lúa gạo ra khỏi nhà cho kịp kẻo lửa ập đến.khi mà lửa đã bén vào tranh kèm theo nắng và gió mạnh thì đành phải để cho lửa hoành hành theo ý muốn của nó.sau khi hỏa hoạn xong đi từ đầu làng đến cuối làng cây cối xác xơ nhà cửa hoang tàn đổ nát gia súc gia cầm chết cháy còn hơn chiến tranh mới thấm thía câu (THỦY HỎA ĐẠO TẶC)  Nước lũ,cháy nhà, chiến tranh.
         Sau ngày hòa bình đập ngăn mặn cửa lác được xây dựng để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cho cả hai mạn sông từ làng Vân Trình theo men hai bờ sông Ô Lâu nên nguồn nước ngọt có đủ tưới cho các đồng ruộng nhưng nước không còn uống được nửa dân làng chỉ tắm giặt vì nguồn nước bị tù đọng.đập ngăn mặn Cửa Lác giử nước ngọt để tưới cho đồng ruộng từ Thanh Hương lên tận Mĩ Chánh có tác dụng rất hiệu quả phục vụ cho hàng ngàn ha ruộng lúa từ của hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị.
Đất Quảng trị nói chung mà Hải Lăng nói riêng phải hứng chịu gió lào đời nầy sang đời khác ai đi xa quê không thể nào quên mùi khen khét của gió lào mà những năm ở làng quê phải làm ruộng chống hạn,chống ghe ra đồng bón phân,nhổ cỏ, đi đạp nước đêm lúc nghỉ ngơi ở lại ngoài đồng lên bờ ruộng ngồi ăn khoai lang uống bát nước chè xanh mà cảm thấy rất sảng khoái và say mê với công việc vào những năm khổ cực vất vã của thập niên sáu mươi.Năm nay gió lào từ tháng 4 đến tháng 6 mà vẫn chưa hết gió có thể nói là gió lào năm nay rất khác lạ hơn mọi năm gió cấp 4 cấp 5 và cả ngày lẫn đêm.
         Ở vùng gần biển Hải Lăng các xã như Hải An ,Hải Khê, Hải Dương, Hải quế gió Lào phải làm đê ngăn cát bay có khi bà con đi làm nghề biển gặp sóng to gió lớn cũng gặp phải nhiều khó khăn, càng đi ra phía Đông Hà gió càng mạnh hơn mổi lần gió mạnh đi xe đạp xe máy cũng làm cho người đi xe rất vất vã cát bụi mù mịt mới thấm câu gió Lào Quảng Trị./.

 Nguyễn Văn hiền.

Thứ Bảy, 7 tháng 7, 2012

NĂM NGÔI MỘ CỔ THỜI CHÚA NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ

Link cố định 07/05/2011@20h07

                                 Mộ ngài tướng thần Lý Tài Tử Nguyễn văn Trung

Con cháu đến viếng mộ nhân ngày giổ của Ngài Sơ Tổ 

 Mộ ngài tri huyện thái hòa Nguyễn văn Nô
         Di Tích Lịch Sử:Khu Lăng mộ Quảng Trị -du lịch trong lòng di tích... Nằm bên bờ Bắc sông Ô Lâu, thuộc làng Văn Quỹ,xã Hải Tân,huyện Hải Lăng,tỉnh Quảng Trị,có một khu nghĩa trang của làng xã, giống như những nghĩa trang khác,đây là một vùng đất hoang vắng, xa đường cái ít người qua lại,có chăng chỉ là những đứa trẻ chăn trâu. Nhưng vừa qua, trong một cuộc du ngoạn điền dã,những người nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu văn hoá dân gian miền Trung đã phát hiện được một nhóm 5 ngôi mộ kỳ lạ nằm rải rác trên diện tích khoảng 1.000m²,xen lẫn với những ngôi mộ mới ngày nay. Thoạt nhìn, những ngôi mộ này không có gì đặc biệt,chúng bị chìm lấp trong cây cỏ bờ bụi mọc um tùm,lâu ngày không ai để ý.Hơn nữa,cùng với thời gian,một lớp đất dày đã lấp dần lên những bờ tường của thành lăng và những nấm mồ,nên hình dáng lăng mộ xưa không còn được rõ nét.Những lăng mộ này được xây bằng vôi trộn mật,không có cốt gạch với hợp chất xây còn giữ lại nhiều vỏ hàu hến chưa giã nát có thể nhận ra dễ dàng.Đây là loại vật liệu thường thấy ở các lăng mộ rải rác trên các nghĩa trang miền Trung, mà người dân thường gọi là ma Tàu hay ma Vôi. Nhưng điều đáng chú ý là mỗi nấm mồ lại được đắp thành một hình khác nhau, có dáng dấp như một công trình điêu khắc hoàn chỉnh. Ngôi mộ thứ nhất có hình con rùa,với đầu, mai rùa và khoảng cách từ mai đến chân được phân định rõ ràng.Mộ thứ hai có hình quả đào,có thể nhìn thấy đường lõm chạy theo chiều dọc trên thân quả,các chi tiết ở đầu và cuống đều được thể hiện chân thực. Một ngôi mộ khác có hình lá sen đặt úp với những đường gân lá nổi lên rõ rệt.. Bao quanh nấm mồ là tường lăng, cung được xây bằng cùng thứ vật liệu như mộ. Các trụ cửa được xây theo một phong cách giống nhau, trên mặt trước của lăng số một còn thấy hai bức phù điêu đắp nổi bằng vôi,phần lớn đã bị chìm lấp dưới đất,nhưng vẫn còn nhận dạng được một hình con lân với nét khắc sâu, dứt khoát mạnh mẽ.Muốn khảo sát kỹ khu lăng mộ này cần phải có thời gian đào bới để gạt bỏ lớp đất phủ bên trên.
         Đây quả là một kiến trúc độc đáo,chưa từng thấy ở các lăng mộ phía Bắc cũng như phía Nam.Thông thường trong các lăng mộ,nấm mồ được đắp thành hình tròn (hoặc bầu dục)hay hình chữ nhật, tùy theo nơi và tùy theo thời gian.Thậm chí ngày nay có những nấm mồ được đắp cầu kỳ với hình cánh hoa sen xếp tròn,với nhiều hình dáng khác nhau,nhưng ít khi thấy tạo thành một tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh như ở đây. Đấy cũng là điều khiến những người khảo sát phải đi tìm để xác định xem đấy là lăng mộ của ai và ở thời nào? May mắn là ở một ngôi mộ,còn phát hiện được tấm bia bằng sa thạch,tuy bị vỡ mấy chỗ nhưng vẫn còn đọc được chữ và những hoa văn trang trí hình “lưỡng long triều nhật”khá quen thuộc.Dòng chữ ghi trên bia là: "Đầu khảo Quang Nam Tướng thần lại ty Cai hợp Trần quí công chi mộ”.Không nghi ngờ gì nữa,đấy là mộ của một vị Cai hợp họ Trần,thuộc Tướng thần lại ty ở Quảng Nam - đấy là một chức quan dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Trong hệ thống cai trị của các Chúa Nguyễn, phủ Chúa có ba Ty,trong đó có Tướng thần lại ty. Đứng đầu Ty này là một vị Cai bạ và hai vị Cai hợp và Thủ hợp giúp việc, đảm trách việc thu thuế, chi phát lương thực cho quân các đạo. Như vậy đã rõ một trong những lăng mộ này là của một viên quan dưới thời chúa Nguyễn, do “Hiếu tử nam nhi, nữ tứ đồng lập thạch" (hai con trai và bốn con gái cùng lập bia). Từ chỗ giống nhau của phong cách xây dựng, có thể suy ra rằng những ngôi mộ ở đây được chôn cất trong cùng thời gian, khi trị sở của các chúa Nguyễn còn đóng tại Dinh Cát ở Quảng Trị. Đó là thời gian các chúa mới vào lập nghiệp ở phía Nam đầu thế kỷ XVII, nếu mở rộng việc tìm kiếm, chắc chúng ta sẽ còn biết thêm những dấu tích khác về thời các chúa ở khu vực này. Đây là một phát hiện quí. Vì những dấu vết vật chất thời các Chúa Nguyễn đến nay chỉ còn lại rất ít. Thời gian và những cuộc nội chiến đã khiến khá nhiều di tích bị hủy hoại, đặc biệt trên dải đất từ Quảng Bình đến Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Qua các lăng mộ này, ta biết thêm một phong cách mới trong việc xếp đặt nơi trở về cõi vinh hằng dành cho người đã khuất. Lăng mộ - nơi yên nghỉ của người quá cố phải là một nơi tĩnh lặng, và được xây dựng với tất cả tấm lòng quí trọng của người đang sống. Có thể xưa kia, khi người Việt mới khai phá, nơi đây còn là những khu rừng thiêng, cây cối um tùm, tạo nên không gian bao quanh kiến trúc của lăng mộ với những hình dáng đa dạng, càng làm tăng thêm không khí huyền ảo của nơi tưởng niệm. Khu lăng mộ Quảng Trị tuy chỉ mới là một phát hiện khiêm tốn, nhưng sẽ là một chứng tích vật chất giúp ta tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đến nay còn ít được biết đến. Mong rằng trong tương lai, với vị trí cách thành phố Huế không xa, nơi đây sẽ trở thành một điểm tham quan cho những ai muốn trở về với những dấu vết văn hóa xưa của dân tộc.
 Nguồn: Congdulich (Theo SaigonnetNguyễn Văn Hiền Sưu tầm và đăng bài
   Email  
    


Cảm nhận:

Chưa có phản hồi (Cảm nhận) công khai nào.

Ghi cảm nhận:

HỘI THI HOA TẾT NĂM TÂN MÃO


HỘI HOA XUÂN

HỘI THI HOA TẾT 2011
 HỘI NGƯỜI CAO TUỔI TỔ CHỨC HỘI HOA XUÂN
Xong lễ tất niên tại đình làng hội người cao tuổi tổ chức tổng kết hoạt động của hội và hội thi Hoa,năm nay hoa các cụ trồng do thời tiết không được thuận lợi nên nở chậm các cụ phải đi mua thêm ngoài về để tham gia dự thi chiều ngày 24 tết các phân hội đưa xe đi tận từng nhà hội viên đưa hoa của các cụ về tại đình Làng để sáng ngày 25 tổ chức hội thi Hoa.Hội cử ra một ban chấm hoa và phân thành hai tiêu chuẩn là hoa các cụ trồng và hoa mua ngoài để động viên được chia ra nhiều giải,tập thể các phân hội và cá nhân có thưởng mổi giải nhất 50000đ nhì 30000đ nhìn chung năm nay hoa cũng rất nhiều hoa các cụ đưa đến dự thi chưng đầy cả sân đình nhiều sắc màu nhiều nhất là hoa cúc vàng.
Hội hoa xuân của quý cụ hội người cao tuổi đã có từ lâu vào năm 1984 năm nào cũng tổ chức được phòng Văn Hoá thông tin huyện và truyền hình khu vực vào dự và đưa tin trên truyền hình Tỉnh Quảng Trị vì trong huyện chỉ có làng Văn Quỹ có hội hoa xuân mà năm nào cũng tổ chức mừng Đảng Mừng Xuân tại đình làng.
Hội khai mạc tổng kết vào lúc 9g30 được ông Nguyễn Khánh Cả hội trưởng báo cáo tổng kết năm 2011 và phương hướng hoạt động năm 2012 xong và phát bằng chúc thọ quý cụ đủ tuổi 70 ,80, 90 kèm theo tiền chúc thọ và dự liên hoan do hội tổ chức,năm vừa rồi hội đã hoàn thành chiếc xe đưa tang trị giá gần 35000000đ do gia đình ông Nguyễn Bá Đại đầu tư cúng dường để hội có đủ điều kiện những khi có các hội viên qua đời để tiển đưa quý cụ về nơi an nghỉ cuối cùng đở phải gánh bàn quan như các năm trước với nghĩa cử cao đẹp đó đã làm cho bà con dân làng ai ai cũng mến phục và trân trọng. Qua năm mới Nhâm Thìn kính chúc quý cụ và hội người cao tuổi làng Văn Quỹ ngày càng phát huy truyền thống của làng đoàn kết duy trì được ngày hội hoa xuân và đưa phong trào của hội ngày càng lên cao hơn nửa để xứng đáng là làng Văn Hoá đươc sở Văn Hoá Thể Thao và Du Lịch tỉnh Quảng Trị công nhận từ năm 2000 nhằm nâng cao nét đẹp truyền thống quê hương để anh em xa quê tự hào về quê hương Văn Quỹ Mến Yêu
NGUYỄN VĂN HIỀN
Ngày mồng 6 tết năm Nhâm Thìn 2012
HỘI HOA XUÂN
Hai lăm tháng chạp hội thi hoa
Bản sắc duy trì xuân đậm đà
Tỉa uốn chăm nom từ lũ quét
Ươm gieo bảo dưỡng mặc mưa sa
Mai vàng cúc thọ bung phơi phới
Thược dược sanh sung lay mượt mà
VĂN QUỸ sân đình hương sắc ngát
Xuân về chinh cổ*vọng ngân nga ./
24 tháng chạp Tân mão
Lê Đăng Mành
   Email  

NHỮNG NGÀY LỄ TẾT CỦA LÀNG NĂM NHÂM THÌN 2012

Link cố định 27/01/2012@18h36, 497 lượt xem, viết bởi: 


LỄ TẤT NIÊN LÀNG NĂM TÂN MÃO
Vào sáng ngày 25 tháng chạp năm Tân Mão nhằm ngày 18 tháng 01 năm 2012 làng Văn Quỹ tố chức lễ tất niên tại đình làng.Năm nay đình làng rất khang trang nhìn ngoài vào rất lộng lẫy ba gian ba bộ hương án trên bức liền ba gian giửa là bức hoành phi chạm bốn chử VĂN QUỸ ĐẠI ĐÌNH do gia đình ông Nguyễn Bá Đại cúng làng trong dịp tết năm nay sơn son thếp vàng,lễ vật cúng hoa quả và bánh trái trầu rượu.Đúng 7 giờ sáng bắt đầu khỉ lệnh,lệnh chinh Bác Lê đăng Tỵ lệnh trống bác Ngô Văn Năm sau ba hồi chinh cổ ban nhạc hoà tấu nhạc sanh khỉ nhạc xong ban gia lễ xướng Tựu Vị quý bác đứng vào từng vị trí đã được làng cử,gian giửa bác Hội chủ Nguyễn Bá Đại gian tả đứng giửa bác trưởng tộc Lê Đăng Luỹ bên tả bác trưởng tộc Đổ Bá Dủng bên hửu bác trưởng tộc Trần Văn Phú gian hửu đứng giửa bác trưởng tộc Nguyễn Khánh Tỉnh bên tả bác trưởng tộc Ngô Văn Chớ bên hửu để trống vì họ sáu (Họ Phạm) lễ bái tại đình làng Văn trị sau tuần rượu sơ hiến đến tuần rượu thứ nhì bác đại diện tướng lễ đọc Văn lễ tất niên của làng cúng dâng thêm hai tuần rượu á hiến và chung hiến quý vị đại bái phân lập ra ngoài tiếp tục quý bác chức sắc trong làng vào lễ bái sau khi quý bác lễ xong gia lễ xướng tựu vị quý bác đại bái đứng vào vị trí của mình gia lễ xướng lễ tất hồi lệnh chinh cổ và nhạc.
Ngày 30 tết đúng 7 giờ làng cúng lễ 30 cuối năm xong quý bác lên lễ tại nhà thờ âm hồn đêm 30 tết làng tập trung đón giao thừa đúng 11giờ lễ đón năm mới làng tổ chức mừng tuổi quý bậc thần linh và quý ngài Thuỷ Tổ sáu họ thờ tại đình.
Sáng mồng 3 tết năm mới Nhâm Thìn đúng 7 giờ làng tổ chức lễ cúng đưa xong làng lên cúng tại đàn âm hồn các họ về tổ chức cúng tại các nhà thờ họ tết năm nay làng tổ chức không lớn nhưng đầy đủ lễ nghi từ lễ tất niên đến lễ giao thừa hy vọng một năm mới mưa thuận gió hoà cầu mong cho con cháu xa gần được Vạn Sự An Lành và bà con dân làng gặt hái nhiều kết quả về sản xuất nông nghiệp.
Ngày mồng 6 tháng giêng năm Nhâm Thìn 2012

Nguyễn Văn Hiền
   Email  

NGHỀ MỚI CỦA LÀNG TÔI

Link cố định
NGHỀ MỚI CỦA QUÊ TÔI


Nghề thêu ren xuất khẩu

          Nghề truyền thống và lâu đời nhất từ khi lập làng của quê tôi là nghề chằm nón lá,nón được đưa đi khắp trong Tỉnh Quảng Trị từ chợ huyện(chợ Vĩnh Linh) chợ Cầu Gio Linh,chợ Sòng,chợ Phiên thuộc huyện Cam Lộ,chợ Sải thuộc huyện Triệu Phong,Chợ Kẻ Diên Xã Hải Thọ,chợ Mỹ Chánh xã Hải Chánh và gần nhất là chợ Phù và chợ Ưu Điềm đã được người dân trong vùng rất ưa chuộng,nón lá dày để đội đi lao động nón lá mõng dùng để đội đi những việc làm nhẹ nhàng đi ăn đám giổ đám cưới....Nghề nầy hiện nay vẩn còn sản xuất và cũng được đổi mới thêm lá dừa trông rất trắng và đẹp được bà con trong làng ngoài làng đưa đi làm quà khắp nơi từ nam chí bắc.
         Vào năm 2000 HTX mở thêm ngành nghề đưa một số chị em đi học kỷ thuật thêu sau một thời gian ngắn về tổ chức mở lớp dạy lại cho chị em có nhu cầu học tùy theo điều kiện và sức khỏe mà tham gia học để phát triển và tăng thu nhập cho gia đình.
Một việc làm mới được bà con trong làng rất ủng hộ sự năng động của ban quản trị HTX đã biết đem về cho quê hương thêm một nghề để những chị em thiếu sức lao động không có nghề nghiệp tiếp thu học tập và phát huy sở trường của mình đem lại nguồn thu cho gia đình và nguồn hàng xuât khẩu cho địa phương.
Hơn mười năm sản xuất hàng của chị em làm ra rất hiệu quả đã được công ty Kinh Đô Huế Tổng Giám đốc là người Hàn Quốc bao thầu đầu vào và đầu ra xuất đi Hàn Quốc nên không sợ ứ đọng hàng làm ra bao nhiêu là được công ty thu mua hết lương bình quân của chị em mổi tháng từ 1300000 đồng đến 1500000 đồng. Mổi lần về quê đi ngang qua HTX nhìn vào là thấy khung dệt từ trong nhà ra đến tận ngoài hiên chị em say sưa thêu dệt mà mừng cho quê hương đổi mới và vững bước đi lên không thua kém gì ở thành phố./.


CHÀO EM CÔ GÁI KẺ VĂN
NGÀY XƯA DỆT NÓN NHƯ TẰM NHẢ TƠ
NGÀY NAY KHUNG CỬI THÀNH THƠ
DỆT THÀNH HOA BƯỚM ĐI TÂY ĐI TÀU
Nguyễn Văn Hiền
   Email  

Cảm nhận:

1. Cảm nhận từ: Nguyen Ba Dai [Bạn đọc] Email ·http://kevanthanyeucuatoi 05.03.12@21:01
Pencil: I'm sorry.
Eraser: For what? You didn't do anything wrong.
Pencil: I'm sorry because you get hurt because of me. Whenever I made a mistake, you're always there to erase it. But as you make my mistakes vanish, you lose a part of yourself. You get smaller and smaller each time.
Eraser: That's true. But I don't really mind. You see, I was made to do this. I was made to help you whenever you do something wrong. Even though one day, I know I'll be gone and you'll replace me with a new one, I'm actually happy with my assigned job. So please, stop worrying. I hate seeing you sad dear.

Chuyển ngữ: Nguyễn Bá Đài,MSC (Missionaries of the sacred heart)

Bút chì: Con xin lỗi!
Cục tẩy: Vì cái gì thế, con yêu? Con có làm gì có lỗi đâu
Bút chì: Con xin lỗi vì mẹ phải chịu đau đớn vì con. Bất cứ khi nào, con phạm phải sai lầm, mẹ lại luôn ở đó sửa sai giúp con. Nhưng khi mẹ làm điều đó, mẹ lại làm hại chính mình. Cứ mỗi lần như thế, mẹ lại ngày càng bé hơn.
Cục tẩy: Điều đó đúng! Nhưng bé ơi, mẹ chẳng phiền đâu. Con nhìn xem, mẹ được sinh ra để làm việc này mà. Mẹ được sinh ra để giúp con bất cứ khi nào con phạm phải sai lầm. Mặc dù mẹ biết ngày nào đó mẹ sẽ mất đi và con sẽ thay thế mẹ bằng người khác nhưng mẹ vẫn rất vui với những gì mẹ đã làm. Vậy nên, đừng lo lắng nữa nha! Mẹ ghét nhìn thấy con buồn lắm.


Cảm nhận
Tôi đã tìm thấy mẫu đối thoại nhiều xúc cảm này giữa cây Bút chì và Cục tẩy. Cha mẹ cũng giống như Cục tẩy này vậy và ngược lại con cái là những cây Bút chì. Họ luôn có mặt vì bọn trẻ và sửa chữa những sai lầm của chúng. Thỉnh thoảng vì điều đó, họ phải chịu đau đớn, họ trở nên "bé" đi ( già đi và thậm chí chết đi). Và dù cho bọn trẻ rồi sẽ tìm thấy một ai đó khác thay thế (vợ/chồng) cha mẹ vẫn rất hạnh phúc vì những gì họ đã làm cho con cái mình, hiển nhiên rất ghét phải nhìn thấy những báu vật quý giá của họ lo lắng hay phiền muộn.

"Suốt cuộc đời mình, tôi đã luôn là cây bút chì. Và điều đó làm tôi đau đớn khi nhìn thấy những cục tẩy - ba mẹ mình - lại bé đi mỗi ngày. Vì tôi biết một ngày nào đó, còn lại với tôi chỉ là những vụn tẩy và những kỷ niệm tôi có với họ."

Nguyễn Bá Đài, người con Làng Văn Quỹ thân tặng ....nhân ngày 8/3

Ghi cảm nhận:



Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

HỌ NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ VĂN TRỊ

HỌ NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ VĂN TRỊ



 
 HỌ NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ,VĂN PHONG VÀ VĂN TRỊ
          Ngôi Từ Đường của họ nằm ở đầu làng thuộc Xã Hải Tân Huyện Hải Lăng cách trung tâm huyện 12km cách Thành Phố Đông Hà Tỉnh Lỵ Quãng Tri 35km Vào thế kỷ XV và Thời các chúa Nguyễn là Xã Văn Quỹ Đến đời triều đình nhà Nguyễn là xã Văn Quỹ thuộc Tổng An Thơ thời đệ nhất cộng hòa đến chế độ Nguyễn văn Thiệu là Xã Hải Văn huyện Hải lăng Tỉnh Q.Trị.Trong kháng chiến chống Pháp chính Quyền CM sát nhập 3 xã H.Nhi H.Văn H.Kinh gồm các làng Câu Nhi,Văn Quỹ,Văn Trị,Hưng Nhơn,An Thơ,Phú Kinh Thành xã Hải Phong thuộc Huyện Hải Lăng Tỉnh Quãng Trị Trong kháng chiến chống Mỹ chính quyền CM sát nhập hai xã Hải Nhi và Hải Văn thành xã Hải Tân để quản lý và thành lập Chi bộ Đảng và Lực lượng Vũ trang nhân dân.
        Họ Nguyễn là dòng họ thứ hai đứng vào hàng khai khẩn lập làng thế kỷ XV vào thời Vương triều nhà Hậu Lê,chức tước của Ngài là Quả Cảm Đại Tướng Quân trong văn tế huý kỵ hàng năm vào ngày 16-17/8 Âm Lịch và ngày lễ Yến Quân vào ngày 26/2 Âm Lịch là : “ Hiễn Thỉ Tố Khảo Khai Khẩn Bổn Thổ Quả Cảm Tướng Quân Cương Nghị Nguyễn Quý Công,Khâm mông sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Gia Tặng Đoan Túc Tôn Thần’’ Ngày lễ này từ xa xưa để lại vì Ngài là Quả cảm Đại Tướng Quân đánh thắng quân giặc được nhà vua cho kỉ niệm ngày lễ khao quân,yến tiệc,để chiêu đãi quân sỹ,từ đó hàng năm vào ngày 26.2AL được làng tổ chức tế lễ theo phong tục cổ truyền để nhớ ngày lễ quan trọng này.
  Hàng năm vào ngày 17 tháng 8 và ngày 26 tháng 2 AL Làng tế lễ tại miếu ngày kỷ niệm Lễ Yến Quân và ngày giổ Tổ bọc bài văn Tế Lể truy điệu để nhớ công đức của Ngài nguyên văn bài văn tế như sau.
''Viết'' Nhơn sanh bổn hồ Tổ đức thiệt đồng vu Càn dục khôn sanh Hiếu mạc đại ư Tôn lễ hà hạn Ư xuân thường thu tự Cái dục chiêu bách hạnh chi miễn Quan khí đồ sức Nhất thời chi tôn khí.
"CUNG DUY''........Thủy Tổ nhạc độc sừ linh Hải hà chung khí Ngư dĩ thủy nhi Duyên hài khuể ngộ Bách hán kiệt chi bất đồng hổ tùng phong di Nghĩa địch khôn trinh Thập châu thần chi khả tỷ Long quang kì mậu ư quân vương Điển tắc cánh di vu tôn đề cơ nhật khắc thừa tổ vô Yến dực Tiền Đô Thái Giám Dĩ di mưu Thác thổ tưu khởi địch Hậu nhơn hồng du Hậu Lê lập phường nhi sáng thủy tư nhơn kỵ nhật thích lâm cãm hốt tiên thường khổng thời dụng bí gia chỉ mỉ chỉ Biểu thốn tâm vu Mộc bổn thủy nguyên Lể vân nhạc vân Chiêu minh đức vu Thiên kinh địa nghĩa nguyện Lai độ chi oai linh thử giáng vô cương chi khước chỉ Văn trọng châu quan võ vinh hán tước Lai thế đồng tiền Thế dĩ tăng quang dân hy thuấn nhật vật phụ nghiêu cù Kim nhơn tịnh cổ Nhơn nhi xế Mỹ''.......NGƯỠNG LẠI,,Tôn Tổ chi gia huệ Giả......''Bài văn tế này hiện nay được lưu giữ tại Từ Đường được dịch từ nguyên văn chử hán nôm ra bằng tiếng việt và được xem là bài văn cổ nhất của Tổ Tiên để lại cho dòng họ tế lễ hàng năm.
      Ngôi mộ của Ngài toạ lạc tại Cồn Mồ Thượng xứ trong khuôn viên gần 3000 m2 đất.Năm 2008 con cháu xa gần đã đóng góp xây Lăng Mộ.Dựng bia theo lối cổ rât khang trang và hiện đại.Trên là nhà Bia,Tấm bia đá rất lớn nặng gần 2 tấn mặt trước khắc  ''Hiển Thỉ Tổ khảo Khai Khẩn Bổn Thổ Quả cảm Tướng Quân Cương Nghị Nguyễn Quý Công Chi Linh Mộ''Mặt sau là lược ghi Lịch sử của Ngài''Kể đến mộ phần,bình phong trước là bốn trụ đăng.Trong khuôn viên nằm ngoài lăng mộ trồng gần 1000 cây tràm hoa vàng tạo thêm bóng mát nên phong cảnh rất đẹp.
        Hậu duệ của ngài rất tự hào vào ngày lễ Yến Quân hàng năm được làng tổ chức Tế Lễ tại miếu thờ của Ngài ‘Mà tương truyền là Thượng Miếu hạ mộ ngôi miếu thờ Ngài nằm một vị trí rất đẹp ở đầu làng.Năm 2009 con cháu xa gần cùng với họ và anh Nguyễn Văn Lực ở Đông Hà đã tôn tạo lại mới rất khang trang và kiên cố xây gạch theo lối cổ xưa đúc sàn bê tông cốt thép,mặt trước là tấm bia đá rất lớn ghi chức tước và danh phận của Ngài mặt sau ghi lịch sử để con cháu các đời sau được rõ,sau bia là xây tượng trưng ngôi mộ dưới quách trên quan,Hậu điện miếu thờ giữa Thờ linh vị của Ngài Bên Tả thờ linh vị của Cậu Bên hữu thờ linh vị của Bà.
Cách 100m là nhà thờ họ trước nhà thờ cổng Tam Quan,Bình Phong,Tiền Đường và Hậu Chẫm. “Có lẽ nơi đây ngày xưa là nơi ở của Ngài”
      Gian giữa Thờ Ngài trên cao.Thấp hơn một bậc là thờ Linh vị của phu nhân Tôn Bà và linh vị của Cậu.
Gian Tả thờ quý ngài Sơ Tổ ba phái Nhất-Ba-Tư bên Hữu thờ quí ngài Sơ Tố ba phái Nhì-Năm-Sáu.
      Ngài sinh hạ được 6 người con trai kế nghiệp và sinh ra hậu duệ con cháu đến ngày nay còn nguyên cả sáu phái mỗi người con Ngài đặt mổi tên Thuỵ riêng để nói lên bản tính của mỗi người.
1, Nguyễn Hữu Phái - Thuỵ Chất Trực . Đệ nhất lang
2, Nguyễn Thanh Phái - Thuỵ Cương Trực. Đệ nhị lang
3, Nguyễn Văn Phái - Thuỵ Trung Tín. Đệ tam lang
4, Nguyễn Bá Phái - Thuỵ Chánh Trục. Đệ tứ lang
5. Nguyễn khánh Phái - Thuỵ Mẫn Trực. Đệ ngũ lang
6, Nguyễn Đức Phái - Thuỵ Cần Mẫn. Đệ lục lang
 Ngoài sáu Ngài từ phái nhất đến phái sáu Họ còn thờ gian giữa bậc thứ hai bên tả linh vị của cậu có tên là Hiển sơ Tổ khảo Mậu Tài Tá Lang Nguyễn huý Cường thuỵ Trung Trực Đại Lang.
   Hai câu đối:     " Từ Bắc Di Lai Hoan Châu Xứ Tiền Nhân Từ Dã
                   Tùng Nam Khai Thác Văn Quỹ Thôn Hậu Lê Lập Phường"
      Chúng tôi xin mạo muội suy đoán rằng ngài Thuỷ Tổ họ Nguyễn có thể xuất thân từ xứ Hoan Châu mà vào nơi đây khai khẩn lập làng với 3 họ Khai Khẩn ra làng Văn Quỹ?
      Trước 1553 theo sách Ô Châu Cận Lục của học dã Dương văn An Tiến Sỹ thời nhà Mạc đã viết là xã Văn Quỹ và có một tài liệu của ngài để lại hiện nay Phái Nguyễn Văn còn lưu giữ “Được biết vào vương Triều Hồng Đức năm thứ sáu"Tức Vua Lê Thánh Tông" vào năm 1475 ngài vào nơi đây là một vùng hoang vu một miền biên địa hẻo lánh đã khai hoang phá thạch lập ấp dựng làng quy tụ được lưu dân và được dân làng rất ngưỡng vọng.
      Gia phả Phái Nguyễn Văn đã ghi lại đến Đời thứ 5 có Ngài Nguyễn Văn Thứ làm Quan đến Chức Tướng Thần Thuận Nghĩa Tử,Ngài Nguyễn văn Trung Tướng thần lý tài tử,Ngài Nguyễn Văn Nô quan Tri huyện thái hoà tử,Ngài Nguyễn Văn Sóc,Tướng thần Nguyễn Văn Chí,Bả Lệnh ty Nguyễn Văn Hùng,Quán quân sứ Sự thành hầu Nguyễn Văn Du,Cai án Đàm luận bá Nguyễn Văn Mẫn.Vào thời các chúa Nguyễn sau khi mất Ngài Nguyễn Văn Thứ được Triều Đình xây lăng mộ hiện nay còn tại bến Nê thuộc xã Hải Chánh,Ngài Nguyễn Văn Trung và ngài Nguyễn Văn Nô triều đình xây lăng tại xóm đùng,trong thời gian nầy thì phường Văn Phong mới thành lập.Hiện nay có 3 họ đang sinh sống tại phường Văn Phong từ làng Văn quỹ lên là họ Nguyển,họ Trần,họ Đổ,nhưng ruộng trưa vẫn được phân chia do Tổ Tiên để lại làm ăn dưới làng Văn Quỹ và Văn Trị.
      Làng Văn Trị thì được thành lập sau phường Văn Phong và cùng chung huyết thống với nhau được tách từ những dòng họ của làng Văn Quỹ ra bà con vẫn sinh sống chung với nhau ruộng thì phân chia riêng để làm ăn nhưng sinh hoạt họ Tộc vẫn chung nhau để xây dựng và thờ tự.Làng Văn Trị có ngôi đình làng được chia ra từ làng Văn Quỹ vào đầu thế kỷ XX hiện còn bộ Hương án xưa mà đình Văn Trị đang thờ .
Ngày nay con cháu sinh sống khắp mọi miền đất nước và kể cả ngoài nước ai ai cũng tự hào về dòng họ của mình ly hương bất ly Tổ.Một số bà con vào Ngải Giao đi xa quê hương hàng năm do điều kiện ngày giổ Tổ không về được cùng chung nhau góp tiền mua đất và đã xây được một ngôi nhà để thờ vọng Tổ Tiên và cúng Tế Hàng năm vào ngày 16/17/8 Âm Lịch bà con chú bác và anh em tập trung dự lễ.
      Cách đây 10 năm trung Tâm khảo cổ miền Trung đã về khảo sát khu lăng mộ cổ tại khu nghĩa địa ở làng Văn Quỹ cạnh bờ sông ô Lâu đã phát hiện 5 ngôi mộ cổ vào thời chúa Nguyễn thì có 2 ngôi của dòng họ Nguyễn.Một ngôi là Ngài Nguyễn Văn Trung ( Tướng thần Lý Tài Tử ) một ngôi là của  ngài Nguyễn văn Nô ( Quan Tri Huyện Thái Hòa ).Đã được Sở Văn Hóa Thông Tin tỉnh Quảng Trị cấp bằng di tích cấp Tỉnh Bằng công nhận hiện đang treo ở nhà Văn hóa của HTX Văn Quỹ.Ban chấp hành họ bao gồm một bác Trưỡng Tộc sáu bác Trưỡng phái một biện họ quản lý sổ sách thu chi,một thủ họ quản lý tài sản của họ,nhiệm kỳ bác cả ba năm,bác tưỡng phái bốn năm,thủ biện họ hai năm.Hàng năm họ tổ chức đại hội toàn họ vào ngày 26/2/âm lịch đúng ngày lễ yến quân tổng kết công việc năm qua và kế hoach cho năm tới.
       Trong hai cuộc kháng chiến chông Pháp và Mỹ.Chống Pháp có 19 liệt Sỷ chống Mỷ có 28 liêt sỷ'
Tháng 8.1954 trong họ có 59 người đã tập kết ra miền bắc đến ngày đất nước thông nhất các bác các chú các anh đã trở về thăm quê hương nhưng do điều kiện công tác phải trở về đơn vị hầu hết con cháu của các chú các bác được đào tạo các ngành khoa học kỷ thuật,Quân Đội,Công An hiện nay đang công tác trên khắp mọi miền đất nước và nước ngoài.
       Kế tiếp Ngài hậu duệ ngày nay có anh Nguyễn khánh Toàn Tiến sỷ Thượng Tướng Thứ Trưởng Thường Trực Bộ Công An hiện đang tại vị và làm việc ở thủ đô Hà Nội.Anh Em ở khắp nơi rất thành đạt và là những nhà khoa học như anh Nguyễn khánh Xuân kỷ sư lâm nghiệp,viện trưởng giống cây lâm nghiệp trung Ương hiện đang ở Hà Nội.Cháu Nguyễn thị Bích Ngọc Thạc sỷ ngành Mẩu giáo.Cháu Nguyễn khánh Vân thạc sỷ Y khoa.Cháu Nguyễn thị Ngọc Giao khoa học nganh môi trường.Cháu Nguyễn khánh Tý Tiến Sỷ Y Khoa hiện đang làm việc tại Mỹ.Ở Thành phố Hồ Chí Minh Ngãi giao Đà nẳng Huế Đông hà có những anh em,Doanh Nghiệp thành đạt,Kĩ sư, Bác sỹ......
      Thật đáng tự hào cho dòng họ NGUYỄN làng văn Quỹ đã có truyền thống Cách mạng trong hai cuộc kháng chiến và xây dựng Quê Hương ngày nay.
Ngoài việc chăm lo thờ tự Tổ Tiên họ cũng rất chăm lo việc khuyến học cho hậu duệ con cháu sau này,hàng năm vào ngày giổ Tổ Họ còn tổ chức lể phát thưởng cho con em học giõi các cấp và các cháu thi đổ vào Đại Học nhằm động viên con em học giõi để sau này làm rạng danh cho dòng họ.
      Tôi viết bài này vào những ngày đầu xuân năm Tân Mảo 2011 bà con trong làng đã gieo cấy vừa xong vụ đông xuân trời rét gần một tháng vào sáng ngày 25 tết hội hoa xuân của quý cụ hội người cao tuổi đã đưa về tại Đình làng tham gia hội thi hoa và dự tổng kết hoạt động của hội năm 2010 mặc dù hoa không được như ở Thành phố nhưng cũng rất rực rỡ đủ các loài hoa chưng trước Đình làng.Năm nay Đình làng cũng rất lộng lẫy dược con cháu đi làm ăn xa đưa về cúng làng ba bộ hương án thờ sơn son thếp vàng,ba bộ câu đối treo ở gian giửa và nhiều vật thờ tự ; Ngày 30 tết trời còn rét nhưng mưa đã tạnh đến tối thì trời quang mây tạnh làng và các họ đã tổ chức cúng lễ Giao thừa trong không khí trang nghiêm và đầm ấm thì tôi nhận được một bài thơ của một người con xa quê hiện đang ở Ngãi Ggao chúc tết làng.

Mừng Quê Mới

Mừng thay quê củ đã thay da
Cuộc sống bây giờ đã vượt đà
Máy gặt máy cày luôn tiến tới
Trâu bừa người cấy bước lùi xa
Đường phe mở nhựa lộc vừng vắng
Tôn tạo đình chùa lạc gốc cừa
Phơi phới vươn lên chào nắng mới
Bâng khuâng dáng củ nét Quê Nhà
             Lê Sỹ Thu ‘Ngải Giao’
                   NG.V.HIỀN
   Email  

1. Cảm nhận từ: Nguyển đức Tâm [Bạn đọc] Email05.03.11@10:27
Năm vừa qua Tại quê Hương Ngãi Giao - BRVT! những người con xa quê đã xây dựng nhà thờ họ Nguyễn. Để thờ cúng, tế lễ...cho con cháu xa quê hội tụ,tưởng nhớ tổ tiên! Ba tôi Nguyễn đức Khoa, đầu năm lễ từ đường đã khai bút:...

2. Cảm nhận từ: Nguyển đức Tâm [Bạn đọc] Email05.03.11@10:36
KHAI BÚT ĐẦU XUÂN
Tân Mão đầu xuân lễ tổ đường
Bâng khuâng tấc dạ nhớ quê hương
Cầu xin tiên tổ thường gia hộ
Con cháu nơi mô cũng cát tường

Nguyễn Đức Khoa

3. Cảm nhận từ: [Blogger] Email 05.03.11@16:06
bai tho hay qua chu khoa oi
xa que huong ma cac chu cac anh da lam duoc nha tho de hang nam vao ngay gio to tap trung ba con trong ho ve du te le la qua tot. xin chc chu va toan the ba con o ngai giao suc khoe, hanh phuc va thanh dat.
Nguyen Van Hien

4. Cảm nhận từ: Nguyễn Bá Thuận [Bạn đọc] Email09.01.12@11:45
Chú viết bài này hay quá đi chú ơi . Cho dù cháu ở Văn Quỹ cũng lâu trước khi đi Mỹ nhưng cháu không biết mấy cái lịch sữ của làng mình vì không biết phải tìm học ơ đâu hết . Sau khi đọc xong cháu cảm thấy rất vui vì biết thêm về lịch sư của làng mình. Cháu hy vọng ràng mấy con cháu trong làng co' thể đọc được cái bài của chú viết đễ học hỏi thêm vì chắc mấy con cháu cũng như cháu không biết lịch sử của làng mình đâu .

5. Cảm nhận từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email23.02.12@17:05
Cháu Thuận là con ai nhỉ? chú cũng vì yêu mến quê hương và luôn nhớ đến giòng họ từ đó mà chú say mê tìm hiểu để viết lên những bài này rất mong gia đình và các cháu ở xa luôn truy cập trang này để biết thêm thông tin của quê nhà./.

6. Cảm nhận từ: Nguyễn Hữu Hùng [Bạn đọc] Email25.06.12@16:14
Trong cuộc sống mưu sinh, dù tha phương cầu thực, sống một quê hương khác (Ngãi giao) nhưng không bao giờ quên quê cha đất tổ.

KỂ CHUYỆN TRÂU ĐÁNH

KỂ CHUYỆN TRÂU ĐÁNH


CHUYỆN KỂ VỀ TRÂU 

          Ngồi buồn trời mưa không biết làm gì kể chuyện những năm tháng còn nhỏ để nhớ lại chuyện xưa mà đưa lên trang Web để các bạn xa quê đọc cho vui nhớ lại thời trẻ của mình những năm tháng ở quê nơi chôn nhau cắt rốn hiện nay người còn ở quê người thì xa quê một vài năm mới về được một lần có người thì không về được nhưng trong lòng vẫn đau đáu và nhớ quê da diết.

         Câu nói của dân làng mình nhất cá ăn câu nhì trâu đánh chắc*mà thật như vậy mổi lần đi câu cá dọc bờ sông hay đi ra câu ở ngoài đồng ruộng theo các con hói(*)như Đàng Phe,Đàng Bạn,Đàng Tổng Lộ,Trọt Sơn,Cày ngang...ngồi một lúc ta thả cần câu xuống nước mà thấy đồi nhúc nhích khi cá rút mồi mà cái đồi xuống khỏi mặt nước ta cầm cần rút một phát gặp cá to nó liệng qua liệng về tay cầm cần mà thấy sướng vô cùng.
               Vào mùa tháng 7 âm lịch là mùa trâu đực nổi cổ mờm cả làng rất nhiều trâu đực khi mùa cày cấy xong vụ hè thu(Vụ trái)là thời gian trâu nghỉ ngơi chúng tôi còn nhỏ độ 10 đến 12 tuổi sau khi tan học cùng rủ nhau lên bến đằm “ bến trâu mẹp ở đầu làng”ngày nào cũng vậy có khi cả hai ba tháng mà trâu còn đánh mọi người trèo lên các bụi tre mà xem vì ở dưới sợ khi mà con nào thua là nó xông vào người thì rất nguy hiểm nên phải leo lên cao mà xem trâu đánh dưới nước con nào hơn rượt con thua đuổi xa làng nầy qua làng khác hàng cây số về tận làng Hội Điền,Càng An Thơ,ra Văn Trị,Cây Da có khi đuổi lên tận làng Lương Điền mà rất nguy hiểm con nào thua là hay xông vào người hình như nó muốn cầu cứu sự can thiệp giúp đở với nó,những con trâu mới nổi người giử thường phải cho ăn riêng và về bến mẹp cũng phải riêng có nọc cắm giử lại và ngồi trực kẻo sợ con trâu khác nhổ nọc chạy đến đánh,khi thấy con trâu nào a đến là người trực phải mở trâu mình gấp không thì nó đến đè đánh có khi đến chết luôn mà trâu cũng rất khôn nó thấy sức nó không đánh nổi là tự bỏ chạy thậm chí là đến ngửi đái trâu hơn như chịu thú thua thì con trâu hơn bỏ qua.Tôi còn nhớ có một lần trâu nhà ông H và ông Thợ ở xóm tôi trâu Chãng của ông H sừng rất dài mà nhọn vì người dử trâu luôn lấy mẻ chai trau chuốt thương xuyên nên nó rất nhọn nghe đâu nó bạng vào bít đã sâu mà rất lâu lành vết thương.
          Nó tìm đến con trâu Dề ông T vào khoãng 3 giờ chiều trâu Ông H rựt niệt ra và tìm trâu nhà Ông T để đánh vì hai con đã sực nhau lâu ngày cũng may mà người giử trâu nhà ông T biết được nên vào mở niệt kịp không thì nguy to rứa là hai con đánh nhau một buổi chiều từ trên khô trâu ông H kè xuống đìa(*) nhà tôi vì trâu nhà ông H đánh là thế đánh dưới nước tốt hai con húc nhau gần chập choạng tối con trâu ông H lặn hụp xuống sâu nâng cổ con Dề lên và bẻ cổ rất mạnh con trâu Dề chịu không nỗi thua bỏ chạy hai con rượt nhau về tận làng hội điền con thua bít từ đầu đến sau đít con hơn chỉ có trước đầu và cổ khi đem về con trâu ông H béo thêm và có một đường ao trên lưng mới thấy sự sung sướng của Trâu hơn mới nổi cổ mờm tìm về đến nhà phải bôi thuốc đã làm sẳn là vôi dầu hỏa và mòng hóng bôi vào vết thương cho mau lành,hồi đó mà được anh em giử trâu cho ngồi lên lưng trâu một lúc là mừng lắm phải không anh em?
          Vào năm 1960 ông H bán con trâu củ mua con trâu khác trẻ hơn con trâu trước bán đi vì đã già rồi,vào một buổi chiều con trâu của ông Mậu hai con trâu đang ăn với nhau như bạn vì ngày nào hai con cũng ăn với nhau nên hai người giử cứ tưởng không có gì xảy ra đột nhiên hai con nạp nhau dử dội từ hai giờ chiều đến gần tối mới phân thắng bại thế là con trâu của ông Mậu thua hồi đó người bạn tôi giử trâu bị thua nó đi tìm và khóc nức nở tìm trâu về đến nhà gần 10giờ đêm rứa là ngày mai hai con chia tay nhau đi ăn riêng con nào cũng bứt cỏ đầy và cho đi ăn kẹ hai bên dường ruộng để vổ béo nhảy cổ mờm đợi ngày phục thù.
Sau ngày hòa bình khi vào làm ăn tập thể HTX và đội SX trong làng vẫn còn nuôi trâu đực để có đủ sức kéo phục vụ cho viêc SX thỉnh thoảng vẫn còn trâu đánh nhau mà xem đến khi có khoán mới ra đời bà con mua máy cày thay trâu và chuyển nuôi trâu sinh sãn để bán thịt thì ít nhà nuôi trâu đực,hiện nay cả làng chỉ còn hai đến ba con trâu đực chủ yếu là để phối giống cho đàn trâu mẹ mà thôi ngược lại những nhà nuôi trâu nái sinh sãn phải nộp tiền cho những nhà có trâu đực như trả tiền thuê giống nên muốn xem trâu đánh cũng không có mà xem.Khác với miền Bắc như huyện Lập Thạch,Vỉnh Phúc,Hải Phòng...họ nuôi trâu đực vổ béo và chăm rất kỷ để đầu năm có phong trào đưa trâu đánh nhau để phục vụ bà con xem vào dịp tết nguyên đán hàng năm có nhiều cặp trâu đánh ngước nhau từ rất xa chạy nạp một phát là cả hai con đều lăn ra chết con nào thắng đưa về nuôi năm sau đem đến thi lại mà con nào chết họ đưa vên làm thịt chia nhau ăn,mổi lần nhớ đến trâu đánh là tôi ra mua một vài cái đỉa của các tỉnh phía Bắc nơi hội thi trâu đánh về xem thích lắm anh em ơi.
Mổi lần xem là cứ nhớ lại những năm từ 1960 đến 1986 ở quê miềng về mùa tháng 7 âm lịch là đến mùa trâu đánh mà không biết khi nào mới có lại được như xưa/

NGUYỄN VĂN HIỀN
*Hói là sông nhỏ dẫn thủy nhập điền từ sôg ô Lâu vào
*Ao nhà
   Email  
    


Cảm nhận:


1. Cảm nhận từ: cái vịnh [Bạn đọc] Email ·http://quemequangtrihungnhon.blogspot.com/18.12.11@09:02
Ba cháu cũng một thời chự trâu, ông cũng hay kể về chuyện trâu bạng, chuyện mùa đông rét mướt phải lặn xuống hói cắt cỏ cho trâu, chuyện khi cho trâu đạp lúa ông phải ngồi cầm thúng khi mô đuôi hắn cong lên hô "Trâu ẻ,trâu ẻ" thì nhanh tay đưa thúng hứng vào...Đọc được bài của bác, cháu rất thích nhất định sẻ kể lại cho ba cháu nghe! Làng cháu ngày xưa có một cồn đầu trâu, hàng ngày trẻ chăn trâu thường tụ tập vui chơi, hằng năm họ tổ chức cúng vua Đinh Bộ Lỉnh, và đánh nhau với trẻ chăn trâu làng An Thơ( sau 1975 đã không còn) có nhiều nét đẹp của làng quê đi vào ký ức của chúng ta không bao giờ phai nhạt,nó làm ta thêm yêu quê hương, yêu gia đình...Thế mà ngày nay nhiều nét đẹp ấy đã mai một,tiếc quá bác nhỉ!
Cháu đang nghiên cứu về tộc phả dòng tộc, nếu tiện bác có thể cho cháu xin một ít thông tin; Một số người làng Văn Quỷ làm dâu và rể tộc Lê Ngọc-Hưng Nhơn:
Bà nội cháu tên Nguyễn thị Chắt con ông Nguyễn Nộn
O ruột Lê Thị Luyến lấy ông Trần Bá Hưu sinh Trần Bá Hai.
Bác dâu Lê Thị Kê con ông Lê Đăng Bảng.
Thím họ Nguyễn Thị Cháu con ông Nguyễn Khánh Hồ.
Nếu có điều gì bất tiện xin bác lượng thứ bỏ quá.
Cảm ơn bác thật nhiều!
Lê Ngọc Quốc

2. Cảm nhận từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email18.12.11@09:29
Bác sẽ tìm hiểu về yêu cầu của cháu vài hôm nửa bác về quê vì bác ở đông hà đang đi làm nghề và sẽ sớm có thông tin để cháu làm tư liệu về gia phả nhé/

2-1. Phản hồi từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email23.12.11@18:26
Hiện nay có Nguyễn thị Chi con ông Nguyễn bá Khoa và bà Nguyễn thị Xuân
làm dâu nhà ông Lê Ngọc Thượng và bà Sáu chồng tên là Lê Ngọc Hiếu,
Lê thị Bê con ông Lê Thược đã chết và bà Nguyễn thị Lịch lấy chông ở làng văn Quỹ chồng là Nguyễn bá Vinh con ông Nguyễn bá Thỉ và bà Trần thị Thoại
Lê thị Trang con ông Thược và bà Nguyễn thị Lịch lấy chồng là Đổ bá Nông con ông Đổ bá Sỹ và bà Nguyễn thị Thỉ,Nguyễn thị Thanh con ông Nguyễn Khánh Chơn và Bà Trần thị Én về lấy chồng lê Ngọc Ái con ông lê Ngọc Chưởng và bà Nguyễn thị Gái.còn những người đã qua đời thì phải tìm hiểu kỉ hơn nên bác không biết`,`````````

3. Cảm nhận từ: cái vịnh [Bạn đọc] Email ·http://quemequangtrihungnhon.blogspot.com/18.12.11@12:58
Cảm ơn Bác nhiều!
Cháu cũng làm nghề xây dựng.Mong hồi âm-Cháu!

3-1. Phản hồi từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email31.12.11@18:49
trong trang của cháu có phân tích các dòng họ vào lập ra làng Vỉnh Hưng nguồn gốc từ câu hoan vào 1492 bác không có ý kiến nhưng họ nguyễn Đức và nguyễn Hửu đi theo chúa Nguyễn Hoàng (1558) nó lệch nhau trên 60 năm là không thuyết phục lắm,học dã Dương Văn An viết sách Ô châu Cận lục vào nam 1553 là đã có xã Vỉnh Hưng và Xã Văn Quỹ tài liệu của xã VQ(1475)như vậy hai xã nầy đã được quý ngài khai canh và khai khẩn ổn định ra 2 làng và đã được công nhận rồi thì lẽ nào lại dòng họ Nguyễn Hửu và Nguyễn Đức vào sau khi đã có xã VH như vậy các anh công nhận là hai họ vào sau hơn 60 năm ? Theo tôi thì các làng xã lân cận trong vùng từ Câu nhi trở về và từ Mỹ xuyên trở xuống tận thanh hương là quý Ngài từ phía Bắc vào giửa thế kỷ 15 là đúng không nghi ngờ gì nửa. còn chử Kẻ phân tích như kẻ noi kẻ bàng kẻ chợ...của các tỉnh phía Bắc.xuất xứ như thế nào chúng ta cần tìm hiểu thêm vì chử kẻ là tên của họ đạo thiên chúa giáo ở phía đàng trong là rất có lý,Vài lời nhận xét trên đây rất mong anh em bạn bè gần xa tham khảo và cho ý kiến.