Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử về làng Văn Quỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử về làng Văn Quỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

NĂM NGÔI MỘ CỔ THỜI CHÚA NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ

MỘ NGÀI TRI HUYỆN THÁI HÒA TỬ NGUYỄN VĂN NÔ
KHU DI TÍCH MỘ CỔ LÀNG VĂN QUỸ
Di Tích Lịch Sử:Khu Lăng mộ Quảng Trị -du lịch trong lòng di tích...
Nằm bên bờ Bắc sông Ô Lâu, thuộc làng Văn Quỹ,xã Hải Tân,huyện Hải Lăng,tỉnh Quảng Trị,có một khu nghĩa trang của làng xã, giống như những nghĩa trang khác,đây là một vùng đất hoang vắng, xa đường cái ít người qua lại,có chăng chỉ là những đứa trẻ chăn trâu.
Nhưng vừa qua, trong một cuộc du ngoạn điền dã,những người nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu văn hoá dân gian miền Trung đã phát hiện được một nhóm 5 ngôi mộ kỳ lạ nằm rải rác trên diện tích khoảng 1.000m²,xen lẫn với những ngôi mộ mới ngày nay. Thoạt nhìn, những ngôi mộ này không có gì đặc biệt,chúng bị chìm lấp trong cây cỏ bờ bụi mọc um tùm,lâu ngày không ai để ý.Hơn nữa,cùng với thời gian,một lớp đất dày đã lấp dần lên những bờ tường của thành lăng và những nấm mồ,nên hình dáng lăng mộ xưa không còn được rõ nét.Những lăng mộ này được xây bằng vôi trộn mật,không có cốt gạch với hợp chất xây còn giữ lại nhiều vỏ hàu hến chưa giã nát có thể nhận ra dễ dàng.Đây là loại vật liệu thường thấy ở các lăng mộ rải rác trên các nghĩa trang miền Trung, mà người dân thường gọi là ma Tàu hay ma Vôi.
Nhưng điều đáng chú ý là mỗi nấm mồ lại được đắp thành một hình khác nhau, có dáng dấp như một công trình điêu khắc hoàn chỉnh. Ngôi mộ thứ nhất có hình con rùa,với đầu, mai rùa và khoảng cách từ mai đến chân được phân định rõ ràng.Mộ thứ hai có hình quả đào,có thể nhìn thấy đường lõm chạy theo chiều dọc trên thân quả,các chi tiết ở đầu và cuống đều được thể hiện chân thực. Một ngôi mộ khác có hình lá sen đặt úp với những đường gân lá nổi lên rõ rệt..
Bao quanh nấm mồ là tường lăng, cung được xây bằng cùng thứ vật liệu như mộ. Các trụ cửa được xây theo một phong cách giống nhau, trên mặt trước của lăng số một còn thấy hai bức phù điêu đắp nổi bằng vôi,phần lớn đã bị chìm lấp dưới đất,nhưng vẫn còn nhận dạng được một hình con lân với nét khắc sâu, dứt khoát mạnh mẽ.Muốn khảo sát kỹ khu lăng mộ này cần phải có thời gian đào bới để gạt bỏ lớp đất phủ bên trên.
Đây quả là một kiến trúc độc đáo,chưa từng thấy ở các lăng mộ phía Bắc cũng như phía Nam.Thông thường trong các lăng mộ,nấm mồ được đắp thành hình tròn (hoặc bầu dục)hay hình chữ nhật, tùy theo nơi và tùy theo thời gian.Thậm chí ngày nay có những nấm mồ được đắp cầu kỳ với hình cánh hoa sen xếp tròn,với nhiều hình dáng khác nhau,nhưng ít khi thấy tạo thành một tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh như ở đây. Đấy cũng là điều khiến những người khảo sát phải đi tìm để xác định xem đấy là lăng mộ của ai và ở thời nào?
May mắn là ở một ngôi mộ,còn phát hiện được tấm bia bằng sa thạch,tuy bị vỡ mấy chỗ nhưng vẫn còn đọc được chữ và những hoa văn trang trí hình “lưỡng long triều nhật”khá quen thuộc.Dòng chữ ghi trên bia là: "Đầu khảo Quang Nam Tướng thần lại ty Cai hợp Trần quí công chi mộ”.Không nghi ngờ gì nữa,đấy là mộ của một vị Cai hợp họ Trần,thuộc Tướng thần lại ty ở Quảng Nam - đấy là một chức quan dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Trong hệ thống cai trị của các Chúa Nguyễn, phủ Chúa có ba Ty,trong đó có Tướng thần lại ty. Đứng đầu Ty này là một vị Cai bạ và hai vị Cai hợp và Thủ hợp giúp việc, đảm trách việc thu thuế, chi phát lương thực cho quân các đạo.
Như vậy đã rõ một trong những lăng mộ này là của một viên quan dưới thời chúa Nguyễn, do “Hiếu tử nam nhi, nữ tứ đồng lập thạch" (hai con trai và bốn con gái cùng lập bia). Từ chỗ giống nhau của phong cách xây dựng, có thể suy ra rằng những ngôi mộ ở đây được chôn cất trong cùng thời gian, khi trị sở của các chúa Nguyễn còn đóng tại Dinh Cát ở Quảng Trị. Đó là thời gian các chúa mới vào lập nghiệp ở phía Nam đầu thế kỷ XVII, nếu mở rộng việc tìm kiếm, chắc chúng ta sẽ còn biết thêm những dấu tích khác về thời các chúa ở khu vực này.
Đây là một phát hiện quí. Vì những dấu vết vật chất thời các Chúa Nguyễn đến nay chỉ còn lại rất ít. Thời gian và những cuộc nội chiến đã khiến khá nhiều di tích bị hủy hoại, đặc biệt trên dải đất từ Quảng Bình đến Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Qua các lăng mộ này, ta biết thêm một phong cách mới trong việc xếp đặt nơi trở về cõi vinh hằng dành cho người đã khuất. Lăng mộ - nơi yên nghỉ của người quá cố phải là một nơi tĩnh lặng, và được xây dựng với tất cả tấm lòng quí trọng của người đang sống. Có thể xưa kia, khi người Việt mới khai phá, nơi đây còn là những khu rừng thiêng, cây cối um tùm, tạo nên không gian bao quanh kiến trúc của lăng mộ với những hình dáng đa dạng, càng làm tăng thêm không khí huyền ảo của nơi tưởng niệm.
Khu lăng mộ Quảng Trị tuy chỉ mới là một phát hiện khiêm tốn, nhưng sẽ là một chứng tích vật chất giúp ta tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đến nay còn ít được biết đến. Mong rằng trong tương lai, với vị trí cách thành phố Huế không xa, nơi đây sẽ trở thành một điểm tham quan cho những ai muốn trở về với những dấu vết văn hóa xưa của dân tộc.

MỘ NGÀI TƯỚNG THẦN LÝ TÀI TỬ NGUYỄN VĂN TRUNG


Nguồn: Congdulich (Theo Saigonnet)

Nguyễn Văn Hiền sưu tầm và đăng bài

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

LÀNG VĂN QUỸ QUÊ TÔI

LÀNG VĂN QUỸ - QUÊ TÔI 


BẢN ĐỒ DI TÍCH LÀNG VĂN QUỸ 
HOẠ SĨ VẺ"NGUYỄN BÁ VĂN"
CHÁNH ĐIỆN ĐẠI ĐÌNH LÀNG VĂN QUỸ
 
            Vào thời Hậu Lê thế kỉ XV, Mảnh đất này tổ tiên các dòng hộ của chúng ta từ miền bắc xa xôi vào nơi đây khai hoang phá thạch lập làng.Truyền thống để lại có sáu họ .Ba họ khai khẩn lập làng là Lê, Nguyễn, Đỗ. Ba họ khai canh Trần, Ngô, Phạm.trong đó ba họ khai khẩn lập làng là họ Lê, Nguyễn,Đổ.”Họ khai khẩn” Có miếu thờ riêng hàng năm Làng tố chức Tế lễ Họ Lê lễ Xuân thủ.Họ Nguyễn Lể Yến quân.Họ Đổ lể Điền bạn.Trên Miếu thờ dưới mộ phần của quý Ngài.
             Trãi qua bao thế kĩ thăng trầm của lịch sử,các đời Chúa Nguyễn trong làng cũng có nhiều bậc Tiền nhân làm quan trong triều khi qua đời đã được triều đình xây lăng mộ.Các đoàn khảo cổ đã xác định là mộ cổ vào thời chúa Nguyễn.Đã được Sở văn hoá thông tin Quảng Trị công nhận làng có 5 ngôi mộ cổ của thời Chúa Nguyễn thuộc di tích cấp Tỉnh. Khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 đã quy hoạch xây thành Phú xuân thì họ Nguyễn Văn được nhà Vua cấp chiếu chỉ về nhập tịch ăn ở cùng với làng và sinh sống cho đến ngày nay. Ba họ khai khẩn linh vị thờ tại Đình làng Hiển Thỉ tổ khảo khai khẩn bổn thổ lập phường chính trực Lê đại Lang. Hiển Thỉ tổ khảo khai khẩn bổn thổ quả cảm Đại Tướng quân cương nghị Nguyễn Quý Công. Hiển Thỉ tổ khảo khai khẩn Đô thái giám Đỗ Đại Lang. Ba họ khai canh Thờ Tại Đình làng Hiển Thỉ tổ khảo khai canh Dĩnh Xuyên Quận Trần Đại Lang. Hiển Thỉ tổ khảo khai canh Bột Hải Quận Ngô Đại Lang. Hiển Thỉ tổ khảo khai canh Cao Bình Quận Phạm Đại Lang. Vua Khải Định lên ngôi năm thứ hai Phong cho tất cả các dòng họ cũa các địa phương Làng văn Quỹ quý Ngài đều có miếu mộ rỏ ràng nên đều được phong là.Khâm mông sắc phong dực bảo trung hưng linh phò tôn Thần đến năm thứ chín gia tặng thêm hai chử Đoan túc tôn Thần. Riêng phong Thần thì sáu họ đều giống nhau. “Khâm mông sắc phong dực bảo Trung Hưng linh phò gia tặng đoan túc tôn Thần”. Sách Ô châu cận lục của học giả Dương Văn An tiến sĩ thời nhà mạc viết năm 1553 là Xã Văn Quỹ thuộc Huyện Hải Lăng. Nói đến người dân làng Văn Quỹ cũng rất anh hùng “Kẻ sĩ Trung nghĩa Văn Quỹ thà chịu cắt tai chứ không theo giặc”.
Từ xa xưa đầu làng là nhà Trường Thánh thờ tự tôn nghiêm có 2 câu đối ghi tả làng Văn Quỹ như sau: “Văn chương vạn thế trường tồn,thiên nhật nguyệt địa sơn hà.Á vủ Âu phong nan hối tắc” “Dịch nghĩa”Văn chương còn tồn tại mãi ngàn đời đất núi sông năm tháng,gió Âu mưa Á khó phai mờ “Quỹ phạm bách Vương bất dịch.Quốc quân thần gia phụ tử.Hán hưng tần diệt giả nan ô” “Dịch nghĩa”Phép tắc trăm Vua không đổi,nước có Vua tôi,nhà có Cha con,Đời hán hưng đời hưng tần diệt chẳng xấu hổ sao:vào những năm đầu thế kĩ XIX trước cũng có 2 câu đối ghi rõ về lai lịch của tiền nhân như sau:“Từ Bắc di lai hoan châu xứ Tiền nhân từ giả” “Tùng nam khai thác Văn Quỹ thôn Hậu Lê lập phường” Những câu đối trên và Dương Văn An viết về làng Văn Quỹ trong sách Ô châu cận lục.Người dân làng Văn Quỹ rất tự hào với truyền thống của quê hương từ khi lập làng cho đến nay.Chúng ta tìm hiểu lịch sử của làng vì sao làng Văn Quỹ lại có câu: “Văn chương vạn thế trường tồn, Thiên nhật nguyệt địa sơn hà. Á vũ Âu phong nan hối tắc, Quỷ phạm bách Vương bất dịch.Quốc quân thần gia phụ tử.Hán hưng tần diệt dả nan ô... Nếu các bậc tiền nhân không anh hùng gan dạ đoàn kết một lòng vì chính nghĩa phò Vua giúp nước thì làm gì để sách Ô châu cận lục ghi lại là: “Kẻ sĩ trung nghĩa Văn Quỹ thà chịu cắt tai chứ không theo giặc”.vào thời các chúa Nguyễn trong làng có những bậc làm quan điển hình như Ngài Nguyễn Văn Thứ Tướng thần thuận Nghĩa tử,Tướng thần Nguyễn Văn Chí,Bả lệnh ty Nguyễn Văn Hùng,Tri huyện Thái hoà tử Nguyễn văn Nô,Tướng thần lý tài tử Nguyễn Văn Trung,Tri huyện thái hoà Nguyễn Văn Sóc,Quán quân sứ sự thành hầu Nguyễn Văn Du,Cai án đàm luận bá Nguyễn Văn Mẫn,Tướng Cai hợp họ "Trần" Trần quý Công quản lý cấp phát lương thực và thu thuế cho Triều đình thuộc địa phận Quảng Nam,vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh (1624.1672)Lê sĩ Triệt ông đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn 1640,làm binh bộ tả thị lang vào thời các Chúa Trịnh và ông lê Sĩ Hậu

được chúa Trịnh Toàn và chúa Trịnh Tạc phong làm tướng nhiều lần cử đi dẹp giặc đánh Chúa Nguyễn ở sông Linh Giang ,rất tiếc là tôi chỉ biết đến đó vì không có được thêm thông tin về các giòng họ khác.
            Làng có bốn xóm: Thượng an,Đông an,Thái hoà,Phú Thọ mà người trong làng thường gọi xóm Đùng,xóm Trên,xóm Sau,xóm Giữa,ba xóm đều có nhà thờ của từng xóm,riêng xóm Sau hiện nay chưa có nhà thờ hằng năm vào dịp cúng Thanh Minh bà con đang thiết lễ cúng tại ngả ba Đất Thánh gần cồn Mồ,hàng năm vào ngày 16 tháng giêng âm lịch là cúng cầu an đầu năm.Đến ngày lễ Thanh minh làng cáo tại đàn âm hồn vào lúc 6 giờ sáng khỉ lệnh để các xóm tảo mộ cô hồn trong xóm ngày trước ngày hôm sau và bà con trong xóm dâng lễ vật đến nhà thờ âm hồn để cúng dường tất cả dân trong làng đều đến dự lễ. Ngoài sáu họ làng có một ngôi đình thờ phụng khang trang mặt trước thờ ba bộ hương án sơn son thếp vàng,hai bộ giá chiêng trống,hai bộ lổ bộ,hai bàn thờ cũng sơn son thếp vàng do anh Nguyễn Văn Lực ở Đông Hà cúng vào dịp tết Canh Dần năm 2010 ông Ngô Tấn Bửu ở Huế và một số anh em ở Đông Hà, Nha Trang cúng ba hàng câu đối ghi lai lịch làng,một số vật dụng thờ tự như tam sự bằng đồng hạc chầu,hai cặp đèn tiện băng gổ trắc.Gian giữa Thờ vị Thành hoàng làng,Bên tả thờ ba họ Nhất, Ba, Tư. bên hữu thờ ba họ Nhì, Năm, Sáu. Làng có nhà Âm hồn để thờ Hương linh Cô hồn quá vãng nhiều đời nhiều kiếp trước,hàng năm vào dịp lễ Thanh minh tổ chức tảo mộ Cô hồn và Lễ vật cúng tế tuỳ theo điều kiện kinh tế. Làng có một ngôi Miếu Thành hoàng thờ tự riêng trước nhà thờ Âm hồn về phía bên phải đứng trong nhìn ra trong khuôn viên rất rộng ngày lễ ngày tết làng đều cử một bác cựu trưỡng tộc hầu lạy.
Đình làng thường năm có ba lễ đầu năm lễ Cầu an vào ngày 16AL,Tháng sáu lễ cầu phước vào ngày 15-16 AL,tháng chạp lễ Tất Niên vào ngày 25AL và cũng là ngày đại hội hội người cao tuổi trong làng nên các cụ lão thành rất đông đủ lễ xong Làng dự hội thi hoa do hội người cao tuổi đứng ra tổ chức phong trào này đả có từ năm 1984.ngày 30 làng cúng tất niên và đón giao thừa,quý bác chức sắc và dân làng tập trung dự lễ.Dân làng đi theo tín ngưỡng 2/3 là người theo đạo Phật có ngôi Chùa thờ tự Trang nghiêm ngày Rằm và mồng Một bà con theo Phật đến chùa lể bái,phần còn lại theo đạo Ki Tô Giáo có nhà thờ từ vào năm 1908.Những năm chiến tranh chống Mĩ bị bom đạn đánh sập sau ngày đất nước thống nhất được xây dựng lại nhà cấp bốn lâu ngày đã bị xuống cấp và chật hẹp đến năm 2009 được Toà tổng giám mục giáo phận Huế đầu tư xây dựng lại rất rộng rãi và hiện đại,bà con giáo dân từ làng văn Quỹ Hưng Nhơn Phú Kinh Hội Điền ngày chủ nhật đến làm lễ,nhà thờ có một Cha xứ Giáo phận Huế bổ nhiệm về phụ trách.bà con lương giáo sinh sống với nhau rất đoàn kết.Ban chấp hành làng được cử 1 Bác làm Hội chủ,sáu bác Trưởng tộc và thủ biện làng chăm lo việc thờ cúng và tế lễ theo truyền thống hàng năm.Cảnh làng rất thơ mộng, phía trước uốn mình theo dòng sông Ô Lâu,phía sau là cánh đồng ruộng bao la cò bay thẳng cánh từ cạnh làng cho đến tận làng Cây Da thuộc xã Hải Thọ,đúng là một làng quê trù phú đất lành chim đậu nên Tổ tiên của chúng ta chọn nơi đây để lập làng sinh cơ lập nghiệp và để lại cho con cháu ngày nay/
 
SĂC PHONG NHÀ VUA BAN
                                                                                         Nguyễn Văn Hiền - DT 0982514942