Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

TÌM HIỂU VỀ LỊCH SỬ LÀNG VĂN QUỸ



HỘI ĐỒNG TỘC TRƯỞNG

CHÁNH ĐIỆN ĐÌNH LÀNG
 ĐÌNH LÀNG
HỌ LÊ ĐỆ NHẤT TIỀN KHAI KHẨN TRÊN
HỌ NGUYỄN ĐỆ NHỊ TIỀN KHAI KHẨN ẢNH DƯỚI


HỌ ĐỔ ĐỆ TAM TIỀN KHAI KHẨN

HỌ TRẦN ĐỆ NHẤT TIỀN KHAI CANH  MỚI XÂY DỰNG XONG NĂM 2013
HỌ NGUYỄN VĂN
HỌ NGÔ ĐỆ TAM TIỀN KHAI CANH
HAI CÂU ĐỐI CỦA LÀNG

Bên Tả: Văn chương vạn thế trường tồn.Thiên nhật nguyệt.Địa sơn hà á vũ âu phong nan hối tắc.

Bên Hữu: Quỹ phạm bách vương bất dịch.Quốc quân thần gia phụ tử.Hán hưng tần diệt dã nan ô

Hai câu đối nầy được đặt hai bên gian giửa của chánh điện nhà Trường Thánh ở đầu làng đã bị bom đạn chiến tranh chống Pháp phá huỷ hoàn toàn vào những năm đầu thế kỉ XX.

HAI CÂU ĐỐI ĐẶT TẠI ĐÌNH LÀNG

-Từ Bắc di lai Hoan Châu xứ.Tiền nhân từ dã

-Tùng Nam khai thác Văn Quỹ Thôn Hậu Lê Lập Phường

Một tài liệu hiện nay Phái Nguyễn Văn thuộc Chồi nhất của phường Văn Phong có ghi rỏ như sau.

         Hồng Đức lục niên Tựu Đại Bổn Xã .Khẩn hoang lập ấp Xã Văn Quỹ

         Xã Văn Quỹ xưa thuộc Huyện Hải Lăng vào thời Triều nhà Nguyễn thuộc Tổng An Thơ thuộc phủ Hải Lăng,Từ năm 1954 đến 1974 là xã Hải Văn,từ năm 1975 đến nay được sát nhập chung với làng Câu nhi và Hà lỗ lấy tên xã Hải Tân thuộc huyện hải Lăng.

         Trong sách Ô CHÂU CẬN LỤC của thượng thư triều Mạc thượng thư Dương Văn An đã viết đến làng Văn Quỹ Như sau:”KẺ SĨ TRUNG NGHĨA VĂN QUỸ THÀ CHỊU CẮT TAI CHỨ KHÔNG THEO GIẶC” 
CUNG ĐÓN PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ 2013

         Vào tháng 05 năm Bính Ngọ 1306 Vua Chế Mân của nước Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài sang Đại Việt dâng hai châu là Châu Ô và Châu Lý để cầu hôn công chúa Huyền Trân của nước Đại Việt.Vua Trần Nhân Tông đã đồng ý vì Ngài đã lấy ảnh hưởng của đạo Phật là vì dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn để sống đoàn kết hoà bình tránh chiến tranh chém giết lẫn nhau, 
          “Hai Châu Ô ,Lí Vuông nghìn dặm,
Một gái Thuyền quyên đáng mấy mươi”  
           Nhà thơ nhà soạn dã Ưng Bình Khúc Dạ Thị người ở kinh thành Huế đã viết lên bài nước non ngàn dặm ra đi để ca ngợi sự hy sinh cao cả của Công Chúa Huyền Trân,"hai bài nầy cũng có một số nhà sử học ở Huế cho là của Vua Thành Thái". 
HÒ MÁI NHÌ HUẾ:
           Hải Vân quan mây chiều bao phủ,đây sóng vổ rì rầm,kia vượn hú nọ chim kêu,trớ trêu chi đem phận má hồng.Thay cho trống trận tướng lĩnh binh nha.Phụ Vương ơi có thấu mỗi bước mỗi xót xa ngậm ngùi.
CA NAM BÌNH HUẾ

           Nước non ngàn dặm,ra đi,cái tình chi,mượn màu son phấn,đền nợ Ô Ly,đắng cay vì đương độ xuân thì,số lao đao hay là nợ duyên gì.Má hồng da tuyết,quyết liễu như hoa tàn trăng khuyết, Vàng lẫn theo chì .Khúc ly ca sao còn mường tượng cung Tỳ.Thấy chim  hồng nhạn bay đi,tình lai láng.bóng dương hoa quỳ.Nguyện một lời minh quân,nay chuyện đà như nguyện đặng mười phân.Vì lợi cho dân.Tình đem lại mà cân,Đắng cay muôn phần./.

           Một sự hy sinh mà người dân Quảng Trị ,Thừa Thiên và Quảng Nam được thừa hưởng từ đó cho đến nay trong đó có làng Văn Quỹ chúng ta.

           Tháng 6 năm đó Huyền Trân Công Chúa đã về nhà chồng tại kinh thành Đồ Bàn thủ phủ nước Chiêm và trở thành Hoàng Hậu với mĩ hiệu là PARAMEVARI

           Cũng là lúc hai châu Ô,Lý được sát nhập vào lãnh thổ nước Đại Việt,địa giới hành chính được hoạch định từ Cửa Việt tới tận Quảng Nam”riêng vùng đất của hai huyện Vĩnh Linh và Do Linh đã được triều đình nhà Lí thu phục châu Minh linh của người Chăm pa vào năm 1069 nên người dân ở hai huyện nầy đã có từ thế kỉ XI”

            Một năm sau vua Chế Mân qua đời theo thuyết xưa của Chiêm Thành khi nhà Vua qua đời thì Hoàng Hậu phải được đưa lên dàn hoả thiêu theo chồng,đúng về thời gian theo sử sách ghi lại từ Thành Đồ Bàn của nước Chiêm đi theo đường biển hoặc đường bộ ra đến thành Thăng Long của nước Đại Việt phải đi 4 tháng về 4 tháng vì sao công chúa Huyền Trân vẫn còn chưa bị hoả thiêu?...

          Theo truyền thuyết dân gian và một số tài liệu đã ghi sau khi Vua Chế Mân qua đời vua kế vị của nước Chiêm là Chế Chỉ  không muốn hoả thiêu Công Chúa mà muốn trả Công Chúa lại cho Đại Việt để lấy lại hai châu Ô và Lý đã cử 300 chiếc thuyền bảo vệ theo đoàn điếu tang của nước đại việt ra thành Thăng Long,lúc ra giữa biển khơi Thượng Thư Trần Khắc Chung rẻ thuyền đi ra một đảo nhỏ ở một thời gian rồi đưa công chúa về Thăng Long sau, Người Chiêm lấy cớ là Trần Khắc Chung đã làm Ô nhục Hoàng Hậu nước Chiêm và đưa quân sang đánh kể từ đó cứ vài ba năm nước Chiêm đưa đại quân sang đánh một lần,đánh xong đốt nhà cướp của không cho dân ta yên ổn làm ăn và lập làng!

THEO LỊCH SỬ NƯỚC TA

          Vua Trần Nhân Tông thấy đất nước sống hoà bình người dân an cư lạc nghiệp đã lên ngôi Thái Thượng Hoàng rồi nhường ngôi Báu lại cho con là Trần Anh Tông Ngài lên núi Yên Tử xuất gia cầu đạo lập nên phái Thiền trúc lâm yên tử.Vua Trần Anh Tông lên nối ngôi vì quá thương công chúa và để bảo toàn tánh mạng của em mình đã sai Thượng Thư Tá Bộc xạ Trần Khắc Chung và An Phủ Sứ Đặng Văn sang nước Chiêm lấy cớ đi điếu tang để cứu công Chúa về nước gần một năm lênh đênh trên biển Trần Khắc Chung mới đưa được công chúa về tận Thăng Long,

           Trở lại lịch sử làng Văn Quỹ được thành lập vào niên đại nào?Chúng ta ngược dòng lịch sử của sách Ô châu cận lục "1553"ghi rỏ “Kẻ Sỉ Trung Nghĩa Văn Quỹ thà chịu cắt tai chứ không theo giặc” giặc đây là giặc nào có phải là Chiêm Thành hay không? Đại quân của Chiêm Thành đi sang đánh hai châu có lúc lên tới cả 20 vạn quân đánh xong đốt nhà cướp của và đe doạ thì kẻ sĩ trung nghĩa Văn Quỹ mới anh hùng gan dạ đến vậy, vào thời vua Chế Bồng Nga đưa quân sang đánh đại việt từ 1371 đến 1389 đã chiếm thành thăng long nhiều lần cướp của giết người trận cuối cùng năm 1390 hơn 100 chiếc thuyền đã đánh ra đến sông Hoàng Giang bằng đường thuỷ và muốn chiếm thành Thăng Long của nước ta thế đánh như vủ bảo cũng may là có một tướng của quân giặc tên là Ba Lậu Kê có tội sợ bị giết đã đến quy hàng và chỉ chiếc thuyền của Chế Bồng Nga tướng Trần Khát Chân của đại việt mới tập trung cung tên bắn vào thuyền,vua Chiêm tử trận,quân vô tướng như hổ vô đầu đành phải quay về,nước Chiêm nuôi mộng đưa đại quân chiếm lại hai châu  đánh ra thành thăng long ,vào năm 1471 vua chiêm là Trà Toàn đích thân đưa hơn mười vạn quân sang đánh nước ta,được tin báo về thành thăng long vua Lê Thánh Tông lên ngôi năm 1470 lấy hiệu là Hồng Đức năm 1471 thân chinh đưa 20 vạn 10 vạn đường thuỷ và 10 vạn đường bộ đánh trả và đã đánh vào tận thành Đồ Bàn,thắng lớn vua nước ta đã chia nước Chiêm thành ba nước là Chiêm Thành, Hoá Anh ,Nam Phan để cai trị và chịu cống nạp hàng năm cho đại việt kể từ đó nước Chiêm đã yếu đi và không đủ sức để đánh nước ta lại nửa dân chúng chăm lo công việc xây dựng nhà cửa để làm ăn,

          Theo một số tài liệu sau khi vua Lê Thánh Tông đánh thắng quân Chiêm năm 1471 có nhiều vị tướng lúc trở về thăng long đã ghé nghỉ chân các làng quê dọc bờ biển từ Lăng Cô ra đến cửa việt thấy đất đai phì nhiêu cá tôm hải sản trong vùng rất nhiều đã tâu lên vua xin về quê đưa bà con họ hàng của mình vào đàng trong định cư lập làng vua Lê Thánh Tông nghe và đã chuẩn y kể từ đó các vùng thuộc hai châu được ổn định để lập ra các xã theo địa giới mà sách Ô châu cận lục đã ghi lại trong đó có tên xã Văn Quỹ thanh niên rất gan dạ không chịu sự khuất phục của quân giặc thà chịu cắt tai của mình.

          Chúng ta nhìn lại quá khứ của quê hương và lịch sử đã được tôn vinh trong giai đoạn của thời các Chúa Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn làng Văn quỹ có đầy đủ những vị quan trọng thần của triều đình,có rất nhiều mộ cổ trong đó có 5 ngôi ở nghĩa đia xóm Đông An,một số ngôi ven nghĩa địa đậu cầu và còn 1 ngôi của Ngài Tướng thần Thuận Nghĩa Tử Nguyễn Văn Thứ được an táng trên Phường Câu Nhi tại Bến Nê nay thuộc địa phận xã Hải Chánh mà tự hào các bậc tiền nhân của sáu dòng họ đã góp phần làm nên lịch sử cho quê hương và đất nước.

Mổi năm đến ngày giổ Tổ của các dòng Họ đều được tuyên sớ ghi lại công lao to lớn của Quý Ngài trong đó có đoạn viết .Hiển Thỉ Tổ Khảo Khai Khẩn,Khai Canh Khâm mông sắc phong dực bảo trung hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần.Riêng ba ho Khai Khẩn được ghi thêm là “Hậu Lê Lập Phường” thì chúng ta suy luận là Xã Văn Quỹ xưa mà nay là làng Văn Quỹ có thể lập làng vào thời điểm nầy”Hồng Đức Lục niên Tựu đại bổn xã khẩn hoang lập ấp quy tụ lưu dân niên hiệu Hồng Đức được tính từ năm 1471”

Qua bài viết nầy tôi rất mong quý thức dã xem qua và góp ý kiến có gì chưa đúng hoặc thiếu sót rất mong sự chỉ giáo./.

Ngày 15/09/2013 Nguyễn Văn Hiền

MỘ CỔ THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN
MỘ NGÀI CAI HỢP TƯỚNG THẦN LẠI TY TRẦN QUÝ CÔNG CẤP PHÁT QUÂN LƯƠNG CHO BINH LÍNH THUỘC ĐỊA PHẬN QUẢNG NAM THỜI CHÚA NGUYỄN
MỘ NGÀI TRI HUYỆN THÁI HOÀ NGUYỄN VĂN NÔ
MỘ NGÀI TƯỚNG THẦN LÍ TÀI TỬ NGUYỄN VĂN TRUNG

































Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

NHỚ ƠN TIÊN TỔ



NHỚ ƠN TIÊN TỔ

Băng ngàn vượt suối dặm trùng xa

Phá thạch khai sơn dựng nghiệp nhà

Nước ngọt Ô Lâu sông uốn khúc

Phì nhiêu đồng ruộng trải bao la

Đình Chùa Miếu Vũ còn lưu lại

Mỹ tục thuần phong đẹp nếp nhà

Lịch sử vàng son xin ghi tạc

Công ơn trời biển Tổ Tiên ta!
NGUYỄN KHÁNH VỴ

CÔNG CHÀO ĐẦU LÀNG VĂN QUỸ
NHÀ THỜ HỌ NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ, VĂN TRỊ. VĂN PHONG


THƯỢNG MIẾU HẠ MỘ NGÀI KHAI KHẨN HỌ NGUYỄN

 DỒNG RUỘNG SẮP THU HOẠCH VỤ HÈ THU 2013


       GAËP BAÏN ÑOÀNG HÖÔNG


Caùch trôû queâ höông vaïn daëm tröôøng

Noãi loøng caøng nhôù laïi caøng thöông

Heø veà muøa gaët saân ñaày luùa

Thu ñeán meânh moâng nöôùc ngaäp ñöôøng

Xa xöù an cö nôi ñaát khaùch

Laøm aên hoøa nhaäp bieát bao phöông

Hoâm nay tieát leã möøng xuaân môùi

Chuùc baïn an khang vaïn kieát töôøng.

                   

                     Nguyeãn Khaùnh Vî


          GAËP BAÏN TRI AÂM



Gaëp gôõ nhau ñaây xieát noãi möøng

Hai haøng gioït leä öùa röng röng

OÂâm chaàm ñöùng laëng, nghe tim noùi

Troãi khuùc tri aâm maõi chaúng döøng.



                                                                  Nguyeãn Khaùnh Vî

SÔNG Ô LÂU




NHỚ LÀNG

Mai vàng hé nụ đón xuân sang

Trừ tịch đêm nay chạnh nhớ Làng

Trống họ ba hồi thong thả điểm

Chuông Chùa mấy lượt tiếng ngân vang

Đường làng ngỏ xóm người đông đúc
Thăm viếng chúc nhau tiếng rộn ràng
Tết đến xuân về đời đổi mới

Nguyện cầu quê Tổ mãi bình an./.



Nguyễn Khánh Vỵ

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

CHÙA LÀNG VĂN TRỊ TỔ CHỨC LỄ VU LAN VÀ PHÁT QUÀ TỪ THIỆN






         Năm nay Chùa LINH CẢNH TỰ Làng Văn Trị tổ chức lễ Vu Lan và phát quà từ thiên. Anh Hoàng Văn Hiểu ban từ thiên Phật Giáo huyên Hải Lăng phát 10 suât quà môỉ suât trị giá 300000 đông đưa vê phát tại Chùa.

          Cũng trong ngày rằm tháng 7 ban hô tự phát cho bà con hô nghèo và khó khăn trong làng 25 hô mỗi phân quà là 250000 đông và 19 suất quà mỗi suất là 150000 đồng số tiền trên của anh Nguyễn Thanh Đính người con xa quê hiện nay đang sinh sống tại thị trấn Ngãi Giao Tỉnh Bà Rịa vũng Tàu gởi vê giúp cho bà con khó khăn ở trong làng  nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu nhờ ban hô tự trao nhân ngày lễ Vu Lan năm nay 2013.

Ngoài ra vào đầu tháng 6 năm Quý Tỵ 2013 này anh Đính gởi về số tiền 100.000.000 triệu đồng để xây dựng cổng tam quan và tường rào mặt tiền của chùa sau hơn một tháng thi công nay đã gần hoàn thành .,

         Đây là một việc làm đầy ý nghĩa của một người con xa quê hơn 30 năm vào miền nam lập nghiệp mà luôn tưởng nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn xin đóng góp một phần của mình cùng với quê hương nơi ngôi Chùa mà lúc Anh còn nhỏ thường sinh hoạt GĐPT cùng với lứa tuổi mà nay đã trở thành tuổi ông tuổi bà./.


 ANH HOÀNG VĂN HIỂU TRAO QUÀ




















CỔNG CHÍNH 
TƯỜNG RÀO MẶT TRONG


 TƯỜNG RÀO MẶT NGOÀI














   










Ảnh và đưa tin Nguyễn Văn Hiền

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

ĐẾN VỚI NHỮNG BÀI THƠ HAY




VNG LI M RU
Giữa lênh đênh sóng thanh âm đồng vọng 
Âm ba nào bằng giọng Mẹ ru con! 
Trìu mến trao truyền vành nôi đong nhịp 
Lời ấp iu buồn đọng giữa bầu không 
Bước hơn thua ngày tháng lịm đường mây 
Lạc nẻo quắt quay lún kiếp đọa đày 
Về sao lục ký ức thời non dại
Lùa tìm kỷ niệm vá dấu tàn phai
Thời binh biến khắc khoải nhớ khôn khuây
Mặt mũi nào quên được mảnh đất này
Bom đạn tơi bời tre oằn bão lửa
Mẹ gánh con cùng mớ gạo đùm khoai
Đêm chong chờ bom đạn rơi quờ quạng
Lớ quớ mò: chăn chiếu ngỡ con mình
Hồn vía  xuống hầm vỗ yên giấc mộng
Lắng bom rồi Mẹ lại khảm đồng xanh
Ngày nắng hạ nguồn sông quê đủ, thiếu  …
Chi bằng suối Mẹ tuôn ngọt giao mùa
Chắt chiu cơm áo thu đông cơ khổ
Xuân đi…về! xuân Mẹ ngóng liêu xiêu
Giêng hai, chức sắc trẩy hội nguyên tiêu*
Biết bao người cắn tay không còn máu
Trời thì xuân sao đất tứa màu tê tái
Thuở ấy chao về lòng nhói quặn  đau!
Bờ tre bụi chuối ôm giọng ru hời
Mẹ đi rồi !khuất bóng mấy mươi thu
Gối đất quê nghe buồn nứt đau đáu
Cứa buốt toa đời tím buổi mồ côi…
Nôi còn cầm giọng à ơi!
Gói tờ xưa giữ dẫu đời chát chua
Lá rơi về phía cội xưa
«miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương»**
                                                                       Mùa Báo Hiếu 2557
                                                                       Lê Đăng Mành

*Tục ngữ: giêng hai cắn ngón tay không chảy máu
**Hát ru trị Thiên :
«Ngồi buồn nhớ Mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương»

Lê Đăng Mành
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Quảng Trị ngày 03.8.2013
  Nguồn VanDanViet.Net   

 MẸ QUÊ

MẸ QUÊ THƠ LÊ ĐĂNG MÀNH DIỄN NGÂM KIM PHỤNG VIDEO HẢI ĐĂNG

Hình ảnh: HOA QUỲNH

Quỳnh ơi, tan trắng vào đêm
Thắp lên ngọn lửa ấm êm tình đời
Tỏa hương an ủi phận người
Làm tươi mát lại đất trời nặng đau

------------------------------------------------

Ðêm như ngưng ngàn tiếng
Gió bỗng bát ngát hương
Em đang về hiện diện
Một đóa hoa vô thường


Trong hết thảy các loài hoa trên mặt đất, có lẽ hoa Quỳnh là một trong hiếm hoi những loài hoa đặc biệt nhất. Cây hoa giản dị, họ nhà xương rồng, ban ngày trông xoàng xĩnh tầm thường, nhưng về đêm là vua của muôn hoa. Hoa Quỳnh rất dễ trồng. Chỉ cần nửa chiếc lá cắm vào đất tơi xốp, vài tháng đã có một khóm Quỳnh nhỏ. Nhiều người hay trồng hoa Quỳnh trong chậu, hoặc ven hiên nhà phía ngoài cửa sổ. Thường những người đã có tuổi hoặc từng trải mới dám trồng hoa Quỳnh. Có người trồng cả đời nhưng Quỳnh không chịu nở hoa. Hoa Quỳnh kén người trồng như kén bạn tâm giao.

Ngắm hoa Quỳnh nở hoa là một cái thú vào loại bậc nhất trên đời. Còn gì hơn dưới ánh trăng sáng mờ như lụa bóng, trải chiếc chiếu nhỏ, bày độc ấm trà và thêm một ít mễ tửu, cùng với vài người bạn tốt uống rượu ngắm hoa. Nhân gian bảo hoa Quỳnh nở vào nửa đêm nhưng không phải vậy. Hoa Quỳnh nở sớm hơn rất nhiều. Từ chập tối, nụ hoa đã no tròn chúm chím. Ðài hoa mở dần, những đường gân hoa trắng xanh bung ra từ từ. Cuốn hoa mới buổi ngày còn rất nhỏ, vào đêm thoắt dài ra như một cánh tay con gái xanh xao. Thường vào cứ tám giờ là giờ hoa Quỳnh bắt đầu nở hoa. Nhìn nụ hoa mở lòng trinh bạch, ta nghe tim mình bỗng dưng đập rộn. Gió đêm thoảng nhẹ, cuốn hoa cứ vươn dài ra, những cánh hoa run run e ấp. Từ giữa lòng hoa, một bầy nhuỵ trắng đội mũ vàng trạng nguyên toả sâu vào lòng đêm. Mùi xạ hương bay ra ngất ngây. Hương Quỳnh ôm choàng lấy chút bóng đêm còn sót lại dưới tán cây lớn.

Có lẽ không có màu trắng nào sánh được với màu trắng cánh hoa Quỳnh. Là màu hoa Sen nhưng không phải hoa Sen. Là màu Bạch Mã mà không phải là màu Bạch Mã. Dường như có một chút gì đó rất liêu trai trong màu trắng hoa Quỳnh, khiến tôi nghĩ đến màu trắng của những chiếc lông ngỗng mà nàng Mỵ Châu đã đánh dấu sau chân ngựa, trên đường tình trốn giặc năm nào... Một sắc trắng trinh bạch đẹp đến xuyến lòng và dự báo những tai ương khôn lường ở cuộc đời này. Cho nên không lạ khi nhiều người ngắm sắc trắng hoa Quỳnh bỗng nghe trong mùi hương Quỳnh lan nhẹ có tiếng vó ngựa lao xao, tiếng reo hò một thuở, và tiếng bật khóc nức nở của ai đó bên ngoài hiên vắng...

Nhưng thương nhất vẫn là những nụ Quỳnh nở vào đêm ba mươi. Hoa nở thắm. Hết mình. Lặng lẽ như chưa từng có mặt trên đời. Có lần ngắm hoa Quỳnh nở trong đêm ba mươi, dưới bóng đêm u huyền, bỗng dưng tôi thấy sắc hoa trắng lay lắt như gương mặt một thiếu nữ nhồi phấn, miệng hoa cười rất tươi, ở một bên khoé môi trễ xuống một nhuỵ hoa nuột nà như chiếc răng khểnh mười sáu. Hoa Quỳnh của đêm ba mươi là hoa Quỳnh của niềm kiêu hãnh, cô đơn và trắng xoá đêm đầy.

Ðúng nửa đêm. Hoa Quỳnh nở chín rộ, phô phang trọn vẹn nhan sắc hoa. Ðêm ướt đẫm sương và hương thơm lẩn quất như vừa có một gót sen tiên nữ đi qua. Lúc này, cuốn hoa đã to bằng ngón tay út người lớn, màu hoa chuyển sang trắng ngà và hương thơm ngai ngái phủ phê lòng. Ngày nhỏ ngắm hoa Quỳnh nở bên hiên nhà chỉ thấy hoa đẹp và lạ. Chưa thấy rằng ngụ trong đời sống của hoa là bao nhiêu ý nghĩa thế nhân. Nở rực rỡ và lụi tàn trong một đêm, Quỳnh hoa là ngôi sao băng trên bầu trời của cái đẹp. Một cái đẹp ngắn ngủi như những hạt sương buổi sớm gieo thầm trên lối đi. Nó thổi vào tâm thức ngọn lửa của vô thường.

Hoàng Bình Thi

VĂN QUỸ - NGÀY VỀ

Từ giã tháng ngày ôm ấp nhớ nhung

Lên xe ngồi với ước mơ tương phùng

Đường ngàn dặm dài qua bao sông núi

Quê cũ quay về cho thỏa chờ mong


Đây làng tôi Văn Quỹ xóm thôn yên bình

Hoa nắng vờn trên đồng lúa bát ngát xanh

Giòng Ô Lâu êm đềm hàng tre nghiêng bong

Qua Ưu Điềm con đò quẫy mái chèo nhanh


Ngôi đình xưa rêu phủ gió sương phai nhòa

Nay mỹ miều vươn chào mây trắng lướt qua

Đường thênh thang xe cộ ngược xuôi không ngớt

Ai chở giùm tôi về Bến Cộ Cây Da


Tôi giờ bên Văn Quỹ chưa thôi ngỡ ngàng

Bao mái nhà ngôi trường xinh xắn khang trang

Hàng quán xây dọc ngang rạng ngời đèn chiếu

Mua bán rền theo đà cuộc sống đi lên


Chuông chùa ngân vang khi gà kịp vừa gáy sang

Chuông giáo đường báo giờ đi lễ vang xa

Mùa gặt vui đong đầy nụ cười con gái

Tay duyên cài thơ vào những chiếc nón hoa


Từng đã từ ly xa quê lâu rồi

Ngờ đâu quê còn thương nhớ khôn nguôi

Tình quê muôn đời giạt dào như suối

Yêu quá ngôi làng văn Quỹ tôi ơi!




Văn Quỹ, tháng Tư, 2013
TRẦN TƯ NGOAN


CÒN ĐÂY NỖI NHỚ! - thơ Lê Đăng Mành

Tặng bạn bè tha hương



Nhớ lần bước vội xuống đò ngang

Đâu ngỡ đi là biệt xóm làng

Chẽ nước huơ gươm thề trở lại

Ngờ đâu chinh chiến cứ lan tràn

Nghiên bút điêu linh chữ dỡ dang

Phiêu bạt kết tình văn luận bàn

Thù hận ném giao bầy hiếu chiến

Giao lưu huynh đệ đậm da vàng


Trên vai chiến hữu ba lô cõng

Luộc gánh văn chương gối chiến hào

Nằm ước hòa bình mong ký kết

Loài người hiệp định tử sanh nhau !

Đây đó cùng chung giọt máu đào

Khai hoa một Mẹ bọc thai bào

Nâng tầm nô lệ anh em nhắm

Được mất- thắng thua cũng nghẹn ngào


Miệng lưỡi nhuộm lời của ngoại bang

Chuối tre còn gói nỗi kinh hoàng

Giật dây đất nước chia hai ngả

Nam bắc bôi mặt khước họ hàng …!



Mơ ước  hân hoan ngày ghé bến

Nằm ôm hôn đất bãi sông quê

Nhen nóng rơm xưa tàn bếp nguội

Khói chiều giăng lại nối sơn khê

Lửa hương chưa ấm nhịp hồi chuông

Lần lượt gánh nhau giã xóm phường

Sinh kế tìm nơi ươm cuộc sống

Phiêu bồng -chừ tiếp gót ly hương

Phương nam lành đất - nước bao dung

Chìa trọn vòng tay đón Bắc Trung

Nhân ái vô tư người trọng nghĩa

Giúp qua kiếp nạn buổi đường cùng


Sông đời quay quắt một con thuyền

Dong ruổi hư hao mạn muộn phiền

Khởi sắc chi đâu quê cũ hỡi

Giàu- nghèo, giành giựt khoét đường biên

Càng già tuổi nghĩ cứ miên man

Thương lắm quẩn quanh chuyện xóm làng
Chờ đợi người về sau cuộc chiến

Còn đây nỗi nhớ cứ mang mang!


                                                                LĐM