Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2012

TRANG THƠ QUÊ HƯƠNG

TRANG THƠ QUÊ HƯƠNG

Link cố định 25/03/2011@15h39, 1355 lượt xem, viết bởi: 
TRANG THƠ QUÊ HƯƠNG

NHỚ QUÊ
"Nguyễn văn Hiền"
Đêm nay trời trở gió đông
Nghe chuông chùa đánh mà lòng nhớ quê
Ngoài trời gió rít giữ ghê
Lòng xao xuyến quá nhớ quê lạ lùng
Nhớ Ô lâu nhớ xóm Đùng
Đường xưa bến củ ta cùng dạo chơi
..............
Đường về bóng nghã chiều nghiêng
Hương thơm đồng lúa cồn “Biền” huê hương
Ra đi ai cũng vấn vương
Nhớ quê nhớ cội nhớ vườn sắn khoai
Hè về ăn bát canh khoai
Mát lòng mát dạ nhớ ai thuở nào
NỖI LÒNG
"TG Nguyễn Văn Hiền""
Tôi trở về quê một buổi chiều
Buổi chiều buồn bả biết bao nhiêu
Mẹ tôi nay đã không còn nửa
Xuân về lòng trỉu nặng thương yêu!

VÈ NẠN ĐÓI NĂM 1945

Hai bên lặng lặng mà nghe tôi nói chuyện vè
Đến khi nhàn hạ tôi lại đặt vè
Xin mời cô bác lại nghe sự đời
Ngâm nga sắp đặt trò chơi
Ngầm trong thế sự cuộc đời xót xa
Kể từ ngày nạn đói nước ta
Trung Kỳ bắc bộ nói ra thấy phiền
Bước qua năm dậu 1945
Tháng giêng lập hội đi quyên nhà giàu
Quyên về nấu cháo mau mau
Người bò kẻ lết giắc nhau lại ngồi
Nhắm chừng nghĩa trọng thương ôi
Mổi người mổi chén ăn rồi tỉnh lai
Ăn rồi mẹ đặng cho con
Chồng thời thấy vợ vuông tròn bằng ngay
Bởi chân thằng Nhật bổn qua đây
Nên chi lúa gạo thằng Tây trử dành
Một đồng bạc gạo không đủ nấu cháo cũng chẳng đủ nấu cơm
Vải đo năm đồng một thước
Người nào không có bạc đành đành giơ xương
Bước qua hai mươi lăm tháng giêng
Thằng Nhật lấy đông dương một giờ
Đông tây nam bắc nó lại treo cờ
Còn đồn mang cá bảy giờ còn đánh nhau
Người thì bị chết trên lầu
Người thì đổ ruột đứt đầu phơi thây
Thằng Nhật lấy của thằng Tây
Bao nhiêu áo quần thằng tây thằng nhật bận
Tất giày thằng Nhật nó mang
Bao nhiêu kho bạc cho đến kho vàng
Bốn phía đàng thằng Nhật nó canh
Khâm sứ nhốt tại mô ranh
Tây kia biết đặng đi thì vô
Không biết thì băng núi lồ ô sang lào
Người thì quặn quẻ qua Lào làm ăn
Trèo đèo xuống động khó khăn
Phen này không đi thì đói cả bầy
Mà đi thì tám, chín, mười ngày nới tới nơi!

*********
Vào những năm kháng chiến chống Pháp năm 1951 giặc Pháp phá sập tháp chuông nhà thờ Thi ông thuộc xã Hải vĩnh nhiều bậc lão thành ở trong làng Văn Quỹ tham gia kháng chiến hồi đó công tác ở uỷ ban kháng chiến huyện Hải Lăng đã đặt bài vè nói về sự kiện này như sau.Tác gỉa:Nguyễn Văn Bình

******
Nhà thờ Thi ông nằm yên lành bên bờ sông Vĩnh Định

Tháp Chuông cao, cao vút luỹ tre làng

Năm xưa dân sống bình an

Thánh đường u tịch giữa làng tre xanh
Rồi bổng một hôm một bầy giặc Pháp
Hung hăng trèo đập nát gác chuông cao
Thánh giá đổ nhào ngồi trên cao sung sướng
Lũ sài lang vui sướng vổ tay cười
Tháp nhà thờ mới hôm nào cao ngất
Nay rụng rời như xác mất đầu lâu
Lòng hờn căm như lửa đổ thêm dầu
Giáo dân im lặng nhìn nhau thôi hết nói
Miệng lâm râm niệm câu kinh ăn năn tội
Mắt nhìn trời như nhắn với trời xanh
Giặc phá thánh đường xót xa lòng chúa 
Nát tan lòng người,gạch đổ mãnh vôi rơi
Tơi bời trên mặt đất tơi bời lòng ai

Rồi từ nay vắng tiếng chuông dứt một
Thôn thi ông hận trào u uất
Đồng bào Thi Ông sùng sục căm hờn
Đường Thi Ông vắng bóng giáo dân
Nhà thờ Thi Ông mất câu kinh hôm sớm
Sáng chiều vang tiếng chuông ngân
Hoà trong lời hát câu kinh dịu dàng
Xôn xao đò dọc đò ngang
Câu hò đạp nước rộn ràng canh khuya
Từ khi bờ bên kia đồn thằng Tây đóng
Bao tháng ngày bà con mình sống cảnh đau thương
Cỏ cao lấp các nẽo đường
Xóm làng tan nát tre làng xác xơ
Tàu cau rủ ngọn ngất ngơ
Nhìn dòng sông hẹp đôi bờ xa xă
Ai đi lên trên đường sáu tám

Nhìn về vị trí Thi ông
Hỏi nhau rằng đâu rồi thánh giá gác chuông
Vách trơ đứng lặng mái buồn xa xăm!

                 Theo lời kể của anh Lê sỷ Bửu” 
   Email  
    
Cảm nhận:

1. Cảm nhận từ: NGUYỄN VĂN THOẠI [Bạn đọc] Email ·http://thoai6886 08.04.11@22:05
cảm kích những tấm lòng khai sáng miền quê

2. Cảm nhận từ: NGUYỄN VĂN THOẠI [Bạn đọc] Email ·http://thoai6886 08.04.11@22:11
.SUY TƯ.
Dang tay ôm lấy vòng tơ rối.
Se lòng ăn những miếng môn chua,
Mà ngỡ đời thường qua gió bụi,
Nên lòng thủ thỉ khúc "Diễm Xưa"
Gót mòn thuở nhỏ một thời qua
Đôi chân thuở ấy chư kịp mỏi
Xuân chưa kịp đến, đành đã xa,
Chậm bước mà nghe đời nhức nhối.
Dang tay ôm lấy vòng tơ rối
Ngồi uống chong đèn, đợi sương đêm
Lá rơi tưởng gót mềm em tới,
Tỉnh choàng chợp mắt, gió động rèm.
(Thoại, con o Miên)

3. Cảm nhận từ: NGUYỄN VĂN THOẠI [Bạn đọc] Email ·http://thoai6886 08.04.11@22:33
ĐĂNG MÀNH
Gói bớt rét đem chia đều,
Ngắt theo sợi khói nối diều cho em
Xin về đom đóm rọi đèn
Giêng hai ấm lại hong phên liếp chiều.
Để gà bớt tiếng tiêu tao,
Cho trăng gió thở lao xao tự tình.
VĂN THOẠI
Hồng hoan khí tiết thanh minh,
Đêm mây trốn cả, trăng lành trong sương.
Bóng tre buông xõa trên đường,
Đêm thanh, lời điệu ru con dạt dào.

4. Cảm nhận từ: ĐĂNG MÀNH- VĂN THOẠI [Bạn đọc] Email13.04.11@20:51
TÌNH QUÊ NỖI NHỚ
Niềm vui khắp nẻo đường làng
Lúa đang vào vụ đã vàng đồng quê,
Khói lam chiều - Bóng hàng tre
Mùi cơm thơm dẻo hả hê trong lòng.
Tha hương lòng vẫn nhớ mong
Mơ về cố quận nghe sông thở dài.
Mùa về luyến bước xuân phai,
cho ve nức nỡ, phượng bay hạ buồn,
Chia tay áo trắng sân trường
Mơ thời tuổi nhỏ phượng hồng tươm rưng.
Xóm Chùa, xóm Hội, xóm Đùng
Quê hương biết mấy yêu thương ngập lòng.

4-1. Phản hồi từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email15.04.11@20:14

Cảm nhận-cảnh quê

Đầu làng nay đã khác xưa
Trạm bơm nước tưới,mới vừa hôm qua
Ngoài đồng lúa sắp trỗ hoa
Ra thăm đồng lúa chan hoà niềm vui
Đường phe nay đã khác rồi
Lộc vừng đã hết,biết mô mà tìm!



5. Cảm nhận từ: Nguyễn Văn Diệp [Bạn đọc] Email20.04.11@09:25
Tự Tình Quê Hương

Giờ nầy chắc đã cuộn chăn
Trời rét thế nớ mần răng xuân về.
Chiều quê trông thấy nảo nề
Chưa mưa đã lạnh,chưa hè đã khô.
Cao xanh ông ở nơi mô
Chia bớt cái lạnh mang vô trong nầy
Mang ra một ít nắng gầy
Sưởi quê hương ấm,chờ ngày xuân sang. LaDo

Cảm nhận sau khi xem dự báo thời tiết ngày 19/ 01/2011

Quê nghèo phên liếp mong manh.
Mặc cho mưa gió, phong thanh đêm trường
Ơi người cô lý tha hương
Gởi cho chút nắng để hong xuân thì
Đăng Mành


Nắng đã gởi rồi,nhận được chưa
Ở đây xuân đến nắng lưa thưa.
Có bao gởi hết ra ngoài nớ.
Nên trời nổi giận đổ cơn mưa.
LaDo



Thơ đọc được rồi,nắng vẫn chưa
Trời còn tuôn lệ sụt sùi mưa
Thì thôi tứ tuyệt dằn cơn lạnh
Có lẻ lập xuân ông mới chừa.
Đăng Mành

Nắng nhận được rồi, đỡ rét chưa.
Ở đây trời đã tạnh cơn mưa
Thôi thì chút nắng như quà tết.
Biếu cậu mang theo hóng xuân thì.
LaDo


Chiều mơ
Mơ thèm miếng nắng qua đây
Mà hong da đất cho cây nứt chồi
Vén mây thắp ngọn đèn trời
Hâm cơn rét cuối mà phơi hương tàn. 
Đăng Mành



Đất van trời đã thấy thương chưa
Hay “Đông Trù”cởi cá xin thưa.
Trần gian buốt rét cây quên lộc.
Tết về mai nụ khiếp xuân mưa.
Đăng Mành


* ”Đông trù tư mệnh tảo phủ thần quân “hiệu Táo quân”

6. Cảm nhận từ: Thích Châu Thổ [Blogger] Email01.05.11@19:22
chúng ta nên đưa các bài viết về vấn đề tu tập.

7. Cảm nhận từ: Đỗ văn Quỳnh CLB thơ Đà giang TTVH tỉnh Hòa Bình [Bạn đọc] Email 15.05.12@09:10
Tôi cũng là người con sống xa quê hương hơn 30 năm nên tròng lòng hiểu thấm thía nỗi niềm ấy
Nỗi niềm biết nói cùng ai?
Sầu vương trong dạ ,gửi vài ý thơ
Qua đây gửi tới bạn đọc nỗi nhớ quê hương của tôi...

Nhớ quê
***
Nhớ về quê ngậm ngùi thay
Ngẩng nhìn mây trắng còn bay cao vời
Bao năm vẫn tấm lòng tôi
Trang thơ đã viết tên người đầy thêm
Quê hương ơi,gửi nỗi niềm
Phương trời tây bắc ,mãi miền trung du
Từ nơi núi Tản sương mù
Đà Giang uốn khúc sóng du rì rào
Đông về gió lạnh hanh hao
Tình quê ra riết gửi vào đêm trăng
Cho tôi gửi tới cung hằng
Nguyệt Nga có nhớ quê bằng tôi không

Tâm Thanh

7-1. Phản hồi từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email17.05.12@17:21
Nguyệt Nga ở tận cung trăng
Chúng mình ở dươí trần gian kiếp ngươì
Bôn ba theo phận nôỉ trôi
Kiép sau xin được làm ngươì ở quê./.

CHÙA VĂN QUỸ CHỐN NƯƠNG TỰA BÌNH YÊN

CHÙA VĂN QUỸ CHỐN NƯƠNG TỰA BÌNH YÊN

TƯỢNG ĐÀI QUAN ÂM

 Ngồi dưới bậc thềm của Thánh Thượng Quán Thế Âm,Đợi đến lượt mình nhận quà cứu trợ lũ lụt của quý thầy cô và các đoàn từ thiện về trao tặng...Tôi lại miên man nghỉ về chùa làng mình đã bao lần cưu mang che chở cho dân vượt qua thống khổ của chiến tranh,thiên tai,dịch bệnh.
Quê tôi vãn gọi là chùa Văn Quỹ dung dị và mộc mạc như vậy mặc dầu có tên là Vạn An Tự hẳn hoi.
Thuộc xã Hải Tân Huyện Hải Lăng nằm tận cùng phía nam Tỉnh Quảng Trị,cách Thừa Thiên Huế bỡi dòng sông Ô Lâu.
Như hoà thượng Mãn Giác “thi sỹ Huyền Không” quê ở xã Hải Ba huyện Hải Lăng đã minh chứng “tình quê của tôi nó thâm nhập như vậy”nên chi trong thời chiến tranh về thăm làng không được,vào năm 1956 tôi đã sáng tác bài thơ “ NHỚ CHÙA”
"MÁI CHÙA CHE CỞ HỒN DÂN TỘC
NẾP SỐNG MUÔN ĐỜI CỦA TỔ TÔNG"
Có lẽ trên đất nước mình chùa quê đều như vậy:Chùa với Đình Làng tuy hai mà một.Nghe quý cụ lão thành kể lại ngày xưa chùa và đình làng thờ chung trong ngôi nhà rường năm gian tiền Phật hậu Linh “Trước thờ tôn tượng bổn sư Thích Ca sau thờ long vị Thành Hoàng “hai gian tả hửu thờ quý tộc.

Năm 1957 chùa tổ chức quy y dưới sự chứng minh của ân sư Thượng Tâm Hạ Thái, Pháp hiệu Thiện Trí.Tự hoà khương bút hiệu Dạ Sỹ Thiện Trí thế danh Nguyễn Diệu sinh năm đinh mùi”1907”niên hiệu Thành Thái năm thứ 19 taị làng Đạo Đầu Triệu Phong Quảng Trị “Khai sơn chùa Hiếu Quang Huế”
Mạng mạch đạo pháp bén rể ăn sâu ,sum suê hoa trái kể từ đây,Tuổi thơ từng theo mạ đi chùa mới đầu ngượng ngùng e thẹn,tay cứ níu vạt áo dài nối của mạ ngập ngừng từng bước vào chùa mà run ,mẹ trìu mến dổ dành:
Vào lễ với mạ bụt thương con trẻ lắm,con không nhớ chuyện Bụt hiện trong chuyện Tấm cám mà mệ hay kể à?
Cũng thiệt ông Bụt ngồi xếp bàng trên cao nớ răng mà hiền, mắt nhìn xuống như nhìn tôi,miệng tủm tỉm cười mải không thôi....Vô tình tôi ngoái lại sau lưng phía trên cửa ra vào một ông mắt trợn trắng bóc,mặt đỏ lòm bộ tướng dử tợn”sau này lớn lên tôi mới biết đó là ngài Hộ Pháp “
Thế rồi bọn con nít chúng tôi càng lâu càng gắn bó với chùa,thường theo mạ đi chùa mạ vô lễ còn bọn tôi bày đủ trò phá phách,vô tâm nghịch nghợm chơi đùa nhất là bắt chim phía sau tượng ngài Hộ Pháp có bức hoành phi kín đáo cho chim sẽ tha hồ làm tổ,té ra trông dáng ngài dử dằn rứa mà lại quá hiền,bọn tôi leo trèo đụng tay,đụng chân có đứa cả gan sờ râu rứa mà đêm về không nằm chộ “nằm mơ” và đau ốm chi nơi.
Đời học sinh lần đời lều chỏng tiểu học và đệ thất cũng rủ nhau lên chùa học cho thanh tịnh,may thuộc bài và cầu nguyện vinh quy.Mái chùa soi bóng bên bờ Ô Lâu hiền hoà chia sẻ cùng dân làng rồi qua bao cay đắn ngọt bùi
Mùa pháp nạn 1963 mặc cho chính quyền tai mắt của gia đình trị ở địa phương hăm doạ,lùng bắt,khủng bố chùa vẩn âm thầm lặng lẽ tổ chức truy niệm chư Bồ Tát vị pháp thiêu thân
Chiến tranh bùng nổ ngày càng khốc liệt,làng xóm tả tơi tất cả đành xa quê!bỏ làng,bỏ chùa tản cư lánh nạn,bước đi mà ngậm ngùi ngoái lại bâng khuâng khi nhớ về câu thơ của Nguyễn Bính mới thấm thía làm sao.
Mai này tôi bỏ quê tôi bỏ trăng bỏ gió ôi chao bỏ làng!Bỏ chùa vào Huế ngày hai buổi đi học đạp xe qua những danh lam thắng cảnh cố đô,những ngôi cổ tự già lam uy nghiêm trầm mặc và những ngôi chùa nho nhỏ như bóng giáng chùa quê.Hiếu Quang,Tịnh Bình,Tây Lộc,Cát Tường cũng thờ Phật,cũng kinh kệ hôm mai không làm cho tôi khuây khoả,răng mà nhớ chùa nhớ Phật ở làng mình dia diết khôn nguôi.
Lang thang làm thân cùng tử,phiêu bạt nơi xứ người,nhìn gia đình Phật Tử”người dưng”sinh hoạt văng vẳng bên tai bài hát dây thân ái,Về dưới Phật đài”Ra đi lìa xa mái hiên chùa,còn đâu bóng lam hiền...”lòng bồi hồi quay quắt nghẹn ngào nước mắt chực trào ra thôi!
Mổi chiều hôm nghe chuông chùa ngân nga là mường tượng chuông chùa làng mình chầm chậm rơi rơi u hoài man mác lãng đảng khói sương đôi bờ Ô Lâu nhung nhớ.Chiến tranh rồi cũng qua,mái chùa cũng theo nhịp sống của dân làng mà đứng vửng nhớ những ngày khó khăn đó bà con đi học bổ túc văn hoá một người mang theo một lòng đèn hoặc ngọn đuốc bằng tre gặp đêm rằm hay mồng một thì ghé chùa góp thêm ánh sáng cho ngôi phạm vũ tụng một thời kinh rồi đi học,chưa biết chữ nhưng chú đại bi và tâm kinh thì thuộc làu.Thế mới thẩm thấu sự nhiệm mầu bất khả thư nghị “Vô Nhất Vật” của ánh sáng thai tạng của lục tổ.
Khốn đốn với chiến tranh,lao đao cùng bảo lũ thì cùng nhau tìm về núp bóng dưới mái chùa quê an bình.Là những nông dân lam lũ,một nắng hai sương với ruộng đồng được chư tôn thiền đức ở Quảng Trị và Huế thường quang lâm sách tấn,trúc liễm thân tâm trong những kỳ tu học bát quan trai,được thấm nhuần đạo vị giải thoát và ánh sáng trí tuệ của đấng điều ngự soi đường đã chắt chiu chăm chút ngôi già lam uy nghiêm cửu trụ an nhiên hằng tại nơi đất làng quê.
Có một ngôi chùa như thế là nơi trưởng dưỡng đạo tâm của quý bác trong làng là nơi tu học khơi mạch nguồn trí tuệ của ánh đạo vàng cho GĐPT và cũng là nơi ưu ái dừng chân của các đoàn cứu trợ bão lụt họp bàn cùng khuôn giáo hội phân phối hàng quà trong tinh thần “Vô phân biệt”của tâm kinh: Đẹp, Xấu, Cấu tịnh, Giàu nghèo, Thân sơ, Lương, Giáo... vì quê tôi có hai tôn giáo tín đồ rất đông là anh em cùng huyết thống trong Tiên Tổ.
Cứ mỗi lần bất an,tôi chống gậy lên chùa ngồi yên ả một mình dưới tượng đài Bồ Tát Quân Âm thấy thanh thản đến lạ lùng,nhìn đoàn sinh GĐPT sinh hoạt lại vẳng về”Hôm nay về dưới bóng cha lành lòng con thấy nhẹ nhàng,vì tâm con yên vui...”Thì lòng khinh an hả dạ đến rưng rưng.
Chùa làng Văn Quỹ nơi che chở tuổi thơ tôi rong chơi an lành thì cũng là nơi nương tựa tuổi già chất ngất bình yên giữa phong ba đời thường./.
Ngày 05/4/2011 Viết bài Lê Đăng Mành
***********
Chú ruột của tôi là Ông Nguyễn Văn Bình bút hiệu là MAI SƠNrất giõi làm thơ sáng tác Nam ai,Nam bằng,Hò Vè đàn được nhiều loại đàn cổ như đàn nguyệt,đàn tranh,đàn tỳ bà,đàn bầu đàn tam thập lục.Những năm 1967 và 1968 ông phụ trách thêm trưởng ban ca cổ nhạc trung phần của đài phát thanh Huế,Ông là người rất gần gủi với cố Hoà Thượng Thích Thiện Trí"1907-2000" đã viết bài thơ Kính dâng Thầy"Thiện Trí"vào những năm thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước.
Bài thơ kính tặng Hoà Thượng THIỆN TRÍ của ông nguyên văn bài thơ bằng Hán Nôm
**********
Điểm hoá mê đồ ký đại ân
Dưỡng sanh ta ngã thượng bôn tần
Vị năng thính pháp bồ đoàn hạ
Tằng nguyện phanh trà tất khố thân
Thanh phước thiền tông thôi bát nhã
Vong ưu lục ỷ phổ ba nhân
Mỗi hoài Bình nguyệt Hương kiều vọng
Vân thọ diêu diêu biến thái thần.
*******
Thuận hoá Cố đô Hiếu Quang Tự Bổn sư trình chính
Đệ tử Nguyễn Văn Bình pháp danh Nguyên Chánh phúng thượng
KÍNH DÂNG THẦY
DỊCH THƠ
Soi Sáng đường mê ơn quá sâu
Phù sinh con vẩn ruỗi rong cầu
Chưa từng nghe pháp bồ đoàn vọng
Thường nguyện đun trà chân gối tâu
Phước sáng Thiền tông rung bát nhã
Buồn quên đàn sợi cảm người sau
Ngày mong bình nguyệt,Hương kiều nhớ
Nhàn nhã tuổi mây thần thái mầu
*********
Bài thứ hai Trương đồ tri mã lực của HT "THIỆN TRÍ" Đăng trên Liên Hoa nguyệt san số 12 năm thứ 11(06/01/1966
TUẤN Mà
Lịch thiệp muôn trùng cứ dẻo dai
Ngựa hay chi quản dặm đường dài
Vân trình rong ruổi đà dư sức
Chiến lũy xông pha lại lắm tài
Vào tử ra sanh theo với chủ
Nhảy cao đá lẹ há nhường ai?
Như xưa Kiền Trắc bao kỳ diệu
Hầu Phật thành công đạo cứu đời
Ông Nguyễn Văn Bình hoạ vần bài này trên Liên Hoa số 2 năm thứ 12(Bính Ngọ.06/03/1966}
***********
Khen thay bốn vó dẻo càng dai
Tuấn mã phăng phăng lướt dặm dài
Xích thố dù so đâu kém sức
Bạch câu đem sánh há thua tài
Đường trường mới biết ra chân ngựa
Trận chiến rồi hay rõ mặt ai
Xuân đến ngựa về trong khói lửa
Quyết mang tài trí giúp cho đời
***********
Khi chú tôi qua đời vào tháng 9 AL năm Mậu Thân 1968 do một căn bệnh hiễm nghèo và cũng buồn vì thương nhớ hai người con và một người rể đã bị mất vào biến cố tết Mậu Thân.Lúc đưa tang lên nghĩa trang Nam Giao đi ngang qua chùa Hiếu Quang HT Thiện Trí đã đưa linh vị của chú tôi vào chùa để làm lễ cầu siêu trong chùa trước khi hạ huyệt và đã viết ca từ khóc đệ tử"Mai Sơn"theo lối Nam bình và Lý tình tang để tưởng nhớ.Trong đó qua điệu nam bình"Nam kha là mộng chua cay,phũ phàng thay,cõi trần ngao ngán,người đã buông tay!Chan hoà suối lệ đầy vơi,lệ vơi đầy,Xót Mai sơn hiếu đạo chi tày,trí tài đang dấy,mới năm lăm tuổi đời chưa mấy,đã lìa bạn xa Thầy!"
Qua điệu lý tình tang thì.
Tiếc thay một kẻ tài hoa
Đành mang số phận thật là mỏng mai
Văn chương nghệ thuật hoà hai
Nhơn luân giáo lý...đạo,đời kiêm ưu
*************
Than ôi chi xiết sầu bi
Thương người đức hạnh...xót nghì thương thân
Cầu ngôi Đại Giác Năng Nhân
Độ hồn vong giả đặng phần siêu thăng
Lúc chú tôi "Nguyễn Văn Bình" ở Quảng Ngãi được đổi về làm việc tại tỉnh Thừa Thiên HT Thiện Trí và Ông Trần văn Thừa cùng nhau Hội ngộ Hợp Xướng độc đáo.
"HT" Vừa được tin về mới bữa tê
Mà nay hội ngộ thật vui hè
Sư đồ hỷ duyệt tình chan chứa
Quyến thuộc hàn huyên dạ hả hê
"VB".Ngắm lại chùa xưa ghi nghĩa cả
Nhìn qua chốn cũ chạnh niềm quê
"TT" Đổi thay thế cuộc tâm chung thỉ
Giấy rách lòng son giữ lấy lề.
****************
Rằng nghe hội ngộ mới hôm tê
Tiếc chẳng cùng vui hợp xướng hè
Đặng dịp ngâm nga dù ngợ ngợ
Nhưng rồi tiếu ngữ cùng hê hê
Đề thi đẹp tứ tươi câu lạ
Hoà vận e tài thẹn tiếng quê
Sẵn nét xưa còn còn thắm đượm
Tìm thêm bỗn cũ đóng thêm lề
Ngày 07/04/2011 "Nguyễn Văn Hiền sưu tầm và đăng bài"
   Email  
    


Cảm nhận:


Chùa Văn Quỹ là nơi ma tôi đã thường xuyên đến lể và sinh hoạt GDPT luc tôi con trẻ, với bao kỷ niệm tràn về khi đọc bài viết về ngôi chùa mến yêu gắn bó với quê nhà, ngôi chùa và sinh hoạt cùng GDPT Văn Quỹ giúp tôi hình thành hơn về nhân cách sống sau này.\
Cám ơn bài viết đã cho tôi trở lại với tuổi thơ, trở lại với ngôi chùa với bao kỷ niệm đẹp. Cám ơn!

Ghi cảm nhận:


KHÓC ĐỆ TỬ MAI SƠN


KHÓC ĐỆ TỬ MAI SƠN*CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÍ (1907-2000)
Ca nam Bình

*****************

Nam kha là mộng chua cay,phũ phàng tay,cõi trần ngao ngán,người đã buông tay!Chan hòa suối lệ vơi đầy,lệ vơi đầy!Xót Mai Sơn hiếu đạo chi tày,trí tài đang dấy,mới năm lăm tuổi đời chưa mấy,đã lìa bạn xa Thầy!
Kiế́p nhơn sanh mây bèo tán tụ vô thường,sắc không càng nghỉ thêm thương, Niềm ưu ái vấn vương tâm thường.
Nguyện Phật Đà thiêng liêng,tiếp độ hồn con Phật,sạch tiền khiên,rày đặng siêu nhiên,dựa đài sen,tiêu diêu cỏi thiền


Điệu lý Tình Tang


****************

Tiếc thay một kẻ tài hoa
Đành mang số phận thật là mỏng mai
Văn chương nghệ thuật hòa hai
Nhơn luân giáo lý....đạo,đời kiêm ưu
Cần cù nghĩa vụ gian lao
Thân danh đâu thấy...lúc nào thảnh thơi
Tánh tình lưu loát vui tươi
Anh em chúng bạn....mọi người mến thương
Nhằm khi biến cố tai ương
Tiêu hao con cái.... gia đường nát tan
Chưa nguôi vì nỗi nguy nan
Một phen nhuốm bệnh.....tách ngàn chia ly
Than ôi chi xiết sầu bi
Thương người đức hạnh....xót nghì thương thân
Cầu ngôi Đại Giác Năng nhân
Độ hồn vong giả đặng phần siêu thăng
******************
Hoà Thượng Sáng Tác Về Huế
Hò lệ số hay mái nhì
ẢM ĐẠM DÒNG HƯƠNG
****************

Muôn thuở sông Hương,ngời gương diễm lệ,
Trải bao thế hệ,vốn chất trong ngần.
Phủ phàng chi bấy hỡi thời nhân,
Nỡ khơi sóng hận chập chờn giữa bawg tâm.
Mặt nước lờ đờ,như mơ như tỉnh,
Như người sình sĩnh với cảnh nhân hoàn.
Phải chăng ảm đạm đài gương,
Bởi từng in dấu tang thương não nề.
Độ lượng mông mênh,tâm tình lưu loát,
Bao nhiêu khê hác,phiêu bạt về đây,
Mạch thơm lai láng chốn nầy,
Nghìn xưa ngát dịu thấm đầy sanh linh.
Lịch sử bao chương,đã ghi tường thắng cảnh,
Nguồn thơm lành mạnh,êm tịnh khác hải hồ.
In sâu hình ảnh Cố Đô,
Đượm màu thanh lịch,điểm tô quê nhà.
*Ông Nguyễn Văn Bình
Nguyễn Văn Hiền Sưu tầm và đăng bài
Ngày 06-06-2011

THƠ TỨ TUYỆT TRẦN TƯ NGOAN

Link cố định 26/07/2011@11h36, 2747 lượt xem, viết bởi: 
Tôi xin đăng sáu bài thơ tứ tuyệt của anh Trần Tư Ngoan người gốc làng Văn Quỹ hiện đang sinh sống tại thị trấn Ngãi Giao Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã đoạt giãi nhât Thơ tứ tuyệt cũa nhiêu tác giã trên 515 bài thơ các tỉnh phía nam dự thi từ ngày 01/10/2005 đến ngày 30/5/2008 do báo tuổi ngọc xuất bản.
CHÀO
Chào khung trời đang lâng lâng nghe nắng
Chào người quen thêm lần được thấy nhau
Nụ cười chào cã bể dâu
Chào luôn con nhện bắt đầu giăng tơ
RƯỢU ĐẮNG
Chiều nghiêng bình rượu giang hồ
Rót tràn lên khoãng hư vô ngã vàng
Ngày tàn cơn sốt chưa tan
Rượu nồng chợt đắng trong ngàn cơn mơ
XUÂN TÀN
Nhìn xuân từ phía sau lưng
Mới hay ngà ngọc phong trần cũng hao
Bóng hồng tươi thắm hôm nào
Giờ tàn phai gió thổi xao mộng người
KHÔNG ĐỀ
Nỗi buâng khuâng chẳng xây nhà mà vút ngọn
Chiếc lá vàng không chạm lại rời bay
Tháng năm nào chịu lấp đầy
Cái ao đời rộng từ ngày ta bơi

ÔNG TÔI
Huơ chiếc gậy chống lên thềm quá khứ
Còng tấm lưng gánh vác ruộng đồng xưa
Ông nhìn hoàng hôn thập thò bên cửa
Lặng lẽ cười chờ đón một đêm mưa

CHIỀU TÀN
Chiều thờ lơ ngả mình trên hứng nắng
Nghe thời gian chảy lạnh dưới bàn chân
Ta vội vã giẫm bừa trên lá rụng
Gởi theo chiều một hơi thở buâng khuâng
Trần Tư Ngoan

Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

NIỀM TỰ HÀO CỦA BA HỌ KHAI KHẨN RA LÀNG VĂN QUỸ

MIẾU THỜ NGÀI ĐỆ NHẤT TIỀN KHAI KHẨN

MIẾU THỜ NGÀI ĐỆ NHỊ TIỀN KHAI KHẨN
MIẾU THỜ NGÀI ĐỆ TAM TIỀN KHAI KHẨN
BA NGÔI MIÊÚ THỜ BA NGÀI KHAI KHẨN RA LÀNG VĂN QUỸ
Hiện  miếu của quý Ngài khai khẩn ra xã Văn Quỹ xưa nay là làng Văn Quỹ mà hiện hữu cả ba họ đều có thờ lư hương, bài vị ghi rỏ chức phận được nhà Vua ban trên bàn thờ,Phần Âm là mộ phần của quý Ngài đươc con  cháu của quý Ngài luôn gìn giử và bảo vê.
          Ngài đệ nhất khai khẩn Hiển Thỉ Tổ khảo khai khẩn bổn thổ lâp phương chính trực LÊ ĐẠI LANG khâm mông sắc phong dực bảo trung hưng gia tặng đoan túc linh phò tôn Thần.Tế Ngài là Lễ Xuân Thủ ngày 21 tháng 02 AL miếu thờ toạ lạc trong khuôn viên nhà thờ của họ.
          Ngài đệ nhị khai khẩn Hiển Thỉ Tổ khảo khai khẩn bổn thổ quả cãm Đại Tướng quân NGUYỄN QUÝ CÔNG khâm mông săc  phong dực bảo trung hưng gia tặng đoan túc linh phò tôn Thần.Tế Ngài là Lễ Yên Quân ngày 26 tháng 02 AL miếu thờ toạ lạc ở đầu làng.
          Ngài đê tam khai khân Hiển Thỉ Tổ khảo khai khẩn Đô thái GiámĐỔ ĐẠI LANG khâm mông sắc phong dực bảo trung hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần. Tế Ngài ngày 08 tháng 02 AL miếu thờ toạ lạc tại Đậu Cầu gần giáp ranh với làng Hưng Nhơn.
          Hằng năm làng tổ chức tế lễ tại ba ngôi Miếu thờ lễ vật có đủ ngân sách thì họ lo mâm cổ mà khó khăn thì cau trầu rượu để tưởng nhớ ngày lễ kỉ niệm của ba ngài Thỉ Tổ đã khai khẩn ra làng Văn Quỹ mà muôn đời con cháu hậu duệ luôn tự hào về bổn tộc của mình. Đến ngày lễ kỉ niệm Quý Ngài hội đồng Tộc trưởng và ban chấp hành làng Lễ đều đến dự đông đủ theo phong tục cổ truyền có lệnh chinh cổ của làng,nhạc lễ,xướng lễ,tuyên đọc Văn sớ nói lên công đức quý ngài đã có công lập ra làng Văn Quỹ.
          Vào thời phong kiến ban quân câp ruông đât ưu tiên cấp cho ba họ mổi họ là năm sào ruộng để lo hương khói hăng năm vào ngày lễ kỉ niệm tại ba ngôi miếu thờ ba ngài khai khẩn. Sau ngày hoà bình ruông đât sung vào tâp thê HTX quản lí nên các họ không còn ruộng con cháu phải đóng góp tu sửa nhà thờ và kị giổ hàng năm.
            Sau ngày Hoà Bình những năm tháng từ 1975 đến 1995 bà con kinh tế còn khó khăn nên chưa đáp ứng được những ngày giổ theo phong tục cổ truyền một phần là do điều kiện kinh tế của các họ chưa đủ để đáp ứng ngày kỉ niệm mà chúng ta không thể nào xao lãng theo năm tháng để rồi bị mai một và mất đi một phong tục đáng ghi nhớ này.
            Hiện nay ba ngôi miếu thờ Quý Ngài đang còn hiện hữu như một chứng tích lịch sử của Quê Hương làng Văn Quỹ mà muôn đời con cháu ba họ tiền Khai Khẩn phải có trách nhiệm bảo tồn,chăm lo tu bổ và hương khói của ba ngôi Miếu đã được xây dựng vào thời của vương Triều Hậu Lê./.
Nguyễn Văn Hiền
   Email  
    
1. Cảm nhận từ: Lê Ngọc Quốc [Bạn đọc] Email ·http://quemequangtrihungnhon.blogspot.com/01.07.12@00:40
Kính chúc bác nhiều sức khỏe. Ngày trước chưa đọc được blog của bác cháu cứ ghi nhầm chứ Quỷ, may đọc được các bài của bác" Xa đồng quỹ, thư đồng văn" cháu được mở rộng tầm kiến thức. Thưa bác! Cháu đang tìm lại dấu vết thành lập làng Vĩnh Hưng xưa, nếu tiện bác có thể cho cháu biết các họ làng Văn Quỹ lưu hạ đến nay cụ thể được mấy đời không ạ! Mong bác hồi âm! Cảm ơn bác đã đọc qua những dòng tâm huyết của cháu.
Lê Ngọc Quốc.

2. Cảm nhận từ: Nguyễn Văn Hiền [Bạn đọc] Email02.07.12@17:32
Làng văn quỹ khai khẩn vào triều đại nhà hậu lê Hồng Đức năm thứ sáu khoảng 1475"Vua Lê Thánh Tông" đến nay đã được 537 năm gia phả của phái Nguyễn Văn của bác đến nay đã 19 đời có nhà đã 20 đời bác thông tin để cháu biết và tham khảo./.

NGHỆ SỈ HỒNG TUYẾT LÀNG VĂN QUỸ XÃ HẢI TÂN


Nghệ sỹ Hồng Tuyết “Sân khấu là chỗ đứng khán giả là niềm vui”
Võ Quê
          Nghệ sĩ Hồng Tuyết quê ở làng Văn Quỹ, xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, Quảng Trị nhưng lại được sinh ra tại rạp hát Thái Mộng Đài (thành phố Vinh) vào ngày 20.10.1942 và sống những ngày thơ ấu cho dến lúc trưởng thành ở Huế. Xuất thân từ một gia đình nghệ thuật; Hồng Tuyết đã tiếp thu những giá trị nghệ thuật ca Huế từ người cha vốn là một nghệ nhân đàn nhị tài danh lúc bấy giờ (Ông Nguyễn Văn Giáo).Khi còn là một cô bé 5,6 tuổi Hồng Tuyết thường được thân sinh cho đi theo dự các buổi ca tri âm trong một số gia đình nhạc hữu hoặc những chương trình ca kịch Huế của các gánh hát biểu diễn trong thành phố Huế hay các vùng phụ cận. Từ những môi trường nghệ thuật đàn ca,ca kịch Huế cộng thêm sự dẫn dắt,truyền dạy các làn điệu ca Huế của thân sinh,Hồng Tuyết thấm nhuần, say mê rồi gắn bó một đời với bộ môn âm nhạc cổ truyền dân tộc ấy. Năm 1957, Hồng Tuyết được tuyển vào Đoàn Ca Kịch Trị Thiên. Tại đoàn, bên cạnh sự dìu dắt của người cha đang phục trách dàn nhạc của đoàn, Hồng Tuyết còn may mắn được sự dạy dỗ, đào tạo

ca Huế, các vũ đạo, cách biểu diễn sân khấu ca kịch …của các nghệ sĩ Ngọc Yến, Kim Oanh, Mộng Điệp, Kim Tha, Xuân Thiệu. Sau hơn một năm học tập, rèn luyện kỹ năng, Hồng Tuyết được đoàn phân một số vai chính như: vai Điêu Thuyền (vở Lã Bố hí Điêu Thuyền), vai Phúc (vở Ánh sáng mùa Thu của Ngọc Hùng), vai Mai(vở Người vợ miền Nam của Nguyễn Lượng), vai Bạch (vở Cây thanh trà của Lưu Trọng Lư), vai bà Thân ( vở Con gà chân chì của Châu Thành-Văn Lang), vai Lệ (vở Sông Hương từ ấy của Lưu Trọng Lư), vai Xiêm (vở Viên đạn súng kíp, Văn Lang chuyển thể từ Dấu chân người lính của nhà văn Nguyễn Minh Châu)…Theo Hồng Tuyết, khi đảm nhận các vai diễn trên, Hồng Tuyết đã rất tâm huyết thể hiện, nhập vai và đã cố vận dụng các sở học để luôn sáng tạo trong quá trình biểu diễn, chính sự kiên trì nỗ lực đó đã được các đạo diễn, nghệ sĩ trong đoàn và khán giả chấp nhận, quý mến. Bên cạnh những vai diễn chính, Hồng Tuyết còn tham gia bất cứ vai phụ nào mà đoàn phân công và cho dù là vai phụ nhưng Hồng Tuyết đều nghiêm túc tìm cho mình một phong cách biểu diễn riêng.
           Thời gian công tác ở đoàn, ngoài việc biểu diễn, Hồng Tuyết còn tham gia dàn dựng một hoạt cảnh cho tốp ca nữ thể hiện tổ khúc “Nón quê em”, tiết mục này đã dược trình bày nhiều lần trong và ngoài nuớc với hiệu quả nghệ thuật cao; Hồng Tuyết cùng các ban văn nghệ nghiệp dư của một số cơ quan, đoàn thể dàn dựng các vở ca kịch phục vụ những cuộc hội diễn tỉnh, thành phố ; huấn luyện nghiệp vụ cho tốp diễn viên Đoàn B từ Quảng Trị ra xóm Cát, Vĩnh Linh học kịp trở vào phục vụ chiến trường (thời gian học 1 tháng hồi tháng 10.1966). Từ sự gắn kết lâu năm với ca Huế, ca kịch Huế cũng như Kim Vàng, Thái Hùng, Hồng Tuyết đã sáng tác, soạn lời nhiều bài ca Huế, điệu lý, hò…được phát trên các đài phát thanh, truyền hình tỉnh, khu vực và trung ương. Từ tâm niệm “Nghệ thuật bao giờ cũng thanh xuân và chưa bao giờ tôi thỏa mãn với cái mình đã có, luôn say mê với nghề, tự rèn luyện bản thân, học hỏi bè bạn, cố gắng vươn lên với mong muốn phục vụ nhân dân nhiều hơn nữa…Khi mới vào nghề, tôi đã xác định cho mình con đường nghệ thuật là lẽ sống và thường nói với bạn bè rằng chỗ sân khấu là chỗ đứng, khán giả là niềm vui…”cho nên đến lúc nghỉ hưu (1982) và những năm về sau Hồng Tuyết vẫn tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực, sân khấu ca kịch Huế, ca Huế. Hồng Tuyết được mời biểu diễn tại Hải Phòng, Nam Hà, Hà Tây, Hà Bắc, Hòa Bình, Phan Thiết, TP. Hồ Chí Minh…Thời gian ở Hà Nội, Hồng Tuyết đã hợp đồng với Đài Tiếng Nói Việt Nam phụ trách chuyên môn dựng một số tiết mục trích đoạn và kỹ thuật ca lý cho Tổ ca Huế đoàn ca nhạc của đài; Ban Liên lạc Đồng hương Thừa Thiên Huế, nhiều phường, quận, huyện tại Hà Nội liên tục yêu cầu biểu diễn.
        Hồng Tuyết được trường mù Nguyễn Đình Chiễu (Hà Nội) tham gia giảng dạy dân ca từ năm 1990 đến 1995. Hiện nay, khi trở về sinh sống ở Huế, hoạt động ca Huế của Hồng Tuyết vẫn sôi nổi, phong phú. Hồng Tuyết được Trường Văn Hóa Nghệ thuật tỉnh mời giảng dạy dân ca, ca Huế, Đoàn Ca Kịch Huế mời tham gia cố vấn kỹ thuật ca lý cho các chương trình biểu diễn trong nước và Trung Quốc (2003); Hồng Tuyết được nhiều thế hệ học trò theo học ca Huế và một số em được thành danh. Về con cái, Hồng Tuyết có niềm vui lớn vì ba người con đã nối nghiệp nhà: Minh Tiến, nghệ sĩ đàn bầu tài hoa của Đoàn Ca Kịch Huế, Hồng Thu, Hồng Thanh là những ca sĩ đang có những cống hiến nhất định vào việc bảo tồn và phát triển loại hình đàn, ca Huế. Với một quá trình hoạt động sân khấu ca kịch, ca Huế, Hồng Tuyết đã nhận được huy chương Chiến sĩ văn hóa, huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa Thông tin, 3 huy chương vàng trong các liên hoan nghệ thuật (1986, 1990, 1992) cùng nhiều bằng khen khác ngành, Hồng Tuyết xứng đáng với lời thơ tặng của một tri âm tại Hà Nội vì đã có cuộc đời nghệ thuật sinh động từ Huế đến Hà Nội và trên mọi miền đất nước:
Mừng nước non qua mấy dặm trường
Bạn hòa dòng Nhị quyện dòng Hương
Hồng tươi sắc thắm, hoa lộng lẫy
Tuyết điểm đầu xanh, đẹp tóc sương
Ngày đăng: 01/06/2011 Nguyễn Văn Hiền sưu tầm theo bài viết của nhà văn Vỏ Quê

TRƯỞNG CẢ HỌ QUA CÁC THỜI KỲ

BAN CHẤP HÀNH HỌ NGUYỄN VĂN QUỸ VĂN TRỊ

Link cố định 16/06/2011@20h00, 2898 lượt xem, viết bởi: 
TRƯỞNG CẢ HỌ QUA CÁC THỜI KỲ TỪ NĂM 1947 ĐẾN NAY
Nguyễn Đức Uẩn 1947-1956
Nguyễn khánh Du 1956-1957
Nguyễn Đức Uẩn 16-8-1957-19-9-1958
Nguyễn Hửu Hình 17-8-1958 Đến 17-7-1959
Nguyễn Thanh Sum 17-7-1959Đến 18-8-1965
Nguyễn Hửu Hình 18-8-1965 Đến 17-3-1969
Nguyễn Thanh Sum 17-3-1969 Đến 18-8-1973
Nguyễn Hửu Mượn 18-8-1973 Đến 19-9-1975
Nguyễn Thanh Đối 19-9-1975 Đến 18-8-1979
Nguyễn Hửu Giao 18-8-1979 Đến 18-4-1981
Nguyễn Thanh Sắt 18-4-1981 Đến 18-7-8-1985
Nguyễn Đức Thế 18-4-1985 Đến 17-8-1988
Nguyễn Văn Biểu 17-8-1988 Đến 19-9-1992
Nguyễn Đức Tửu 19-9-1992 Đến 19-9-1995
Nguyễn Văn Phúc 19-9-1995 Đến 19-9-1998
Nguyễn Hửu Thanh 19-9-1998 Đến 19-9-2001
Nguyễn Bá Đại 19-9-2001 Đến 19-9-2004
Nguyễn Thanh Mách 19-9-2004 Đến 2007
Nguyễn Văn Hiền 19-9-2007 Đến 2010
Nguyễn Khánh Tỉnh 19-9-2010 Đến 2013
Trưỡng Phái Nhất
Nguyễn Hửu Thống 1947-1955
Nguyễn Hửu Hình 1955-1957
Nguyễn Hửu Nượn 1957-1963
Nguyễn Hửu Gạc 1963-1968
Nguyễn Hửu Chấn 1968-1970
Nguyễn Hửu Giao 1970-1973
Nguyễn Hửu Tuân 1973-1979
Nguyễn Hửu Trú 1979-1983
Nguyễn Hửu Tập 1983-1988
Nguyễn Hửu Trung 1988-1999
Nguyễn Hửu Tôn 1999-2002
Nguyễn Hửu Diêu 2002-2007
Nguyễn Hửu Cập 2007-2011
Nguyễn Hửu Hồng 2011-----
Phái Nhì
Nguyễn Thanh Miên 1947-1960
Nguyễn Thanh Đồng 1960-1965
Nguyễn Thanh Đối 1965-1969
Nguyễn Thanh Sắt 1969-1973
Nguyễn Thanh Ước 1973-1984
Nguyễn Thanh Bá 1984-1991
Nguyễn Thanh Mách 1991-1999
Nguyễn Thanh Cách 1999-2004
Nguyễn Thanh Thại 2004-2006
Nguyễn Thanh Bá 2006-2009
Nguyễn Thanh Năm 2009------
Phái Ba
Nguyễn Văn Tuỵ 1947-1965
Nguyễn Văn Biểu 1965-1975
Nguyễn Văn Phúc 1975-1993
Nguyễn Văn Hiền 1993-2002
Nguyễn Văn Tịnh 2002-2009
Nguyễn Văn Dương 2009.........
Phái Tư
Nguyễn Bá Thược 1947-1952
Nguyễn bá Sừng 1952-1955
Nguyễn Bá Cầm 1955-1963
Nguyễn Bá Trốn 1963-1970
Giai đoạn không có 1970-1973
Nguyễn Bá Thanh 1973-1989
Nguyễn Bá Đại 1989-1999
Nguyễn Bá Chiến 1999-2009
Nguyễn Bá Chánh 2009...
Phái Năm
Nguyễn Khánh Du 1947-1954
Nguyễn Khánh Hán 1954-1955
Nguyễn Khánh Lung 1955-1960
Nguyễn Khánh Củ 1962-1962
Nguyễn Khánh Tập 1962-1967
Nguyễn Khánh Thiên 1967-1973
Nguyễn Khánh Uông 1973-1975
Nguyễn Khánh Thạnh 1975-1976
Nguyễn Khánh Tuỳ 1976-1978
Nguyễn Khánh Quán 1978-1981
Nguyễn Khánh Đầu 1981-1985
Nguyễn Khánh Thứ 1985-1988
Nguyễn Khánh Chắt 1988-1991
Nguyễn Khánh Sào 1991-1995
Nguyễn Khánh Tỉnh 1995-1999
Nguyễ Khánh Thỉ 1999-2000
Nguyễn Khánh Cả 2000-2005
Nguyễn Khánh May 2005.2011
Nguyễn Khánh Thỉ 2011------
Phái sáu
Nguyễn đức Luyện 1947-1952
Nguyễn đức Vọng 1952-1954
Nguyễn đức Thiu 1954-1956
Nguyễn đức Cội 1956-1959
Nguyễn đức Sum 1959-1961
Nguyễn đức Cửu 1961-1963
Nguyễn đức Cội 1963-1965
Nguyễn đức Bủng 1965-1967
Nguyễn đức Hiểu 1967-1969
Nguyễn đức Biều 1969-1971
Nguyễn đức Thế 1971-1976
Nguyễn đức Hùng 1976-1978
Nguyễn đức Thoại 1978-1979
Nguyễn đức Ngô 1979-1982
Nguyễn đức Phương 1982-1983
Nguyễn đức Tửu 1983-1989
Nguyễn đức Lưu 1989-1994
Nguyễn đức Linh 1994-1998
Nguyễn đức Xanh 1998-2002
Nguyễn đức Vầm 2002-2007
Nguyễn đức Hệ 2007-----
Nguyễn Văn Hiền Sưu Tầm theo sổ Công Đức của Họ và đăng ngày 09-10-2011
   Email  
    


Cảm nhận:


1. Cảm nhận từ: Nguyễn Khánh Thủy [Bạn đọc] Email23.02.12@23:30
Cháu đã nhiều lần về quê,Nay vô blog thấy bác đã đưa nhiều thông tin về nơi chôn nhau cắt rốn của cháu .chẳng có gì hơn cháu chúc bác cùng gia đình khỏe và giới thiệu với mọi người về blog này