Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

CHÙM THƠ CÁI RÔN NGUYỄN VĂN ĐẮC


CHÙM THƠ CÁI RỐN NGUYỄN VĂN ĐẮC
Nhà xuất bản Thuận Hoá xuất bản năm (2009)


CÁI RỐN


Ai cũng có một lần sinh ra
Từ giọt máu của cha
Từ quặn đau của Mẹ
Cái rốn sinh ra âm thầm lặng lẽ
Dấu ấn một đời lòng mẹ cắt ra
Triệu triệu người trong cuộc sống chúng ta
Có những người không tật bẩm sinh
Họ có thể mang một thân thể dị hình!
Họ đã thiếu cái mà họ không thể thiếu
Cái rốn
Cái rốn vốn lớn lên âm thầm lăng lẽ
Dấu ấn một đời lòng mẹ cắt ra
Chín tháng mười ngày lòng mẹ nối rốn con
Miếng dỡ miếng ngon mẹ cũng nuôi con qua đường ấy!
Đủ tháng, đủ ngày con lớn dậy
Mẹ cắt ruột mình để rốn lại cho con
Từ đó con mang rốn vào đời
Mang theo cả nỗi đau và niềm hạnh phúc
Có hạnh phúc nào không bắt đầu vào nỗi đau?
Có nỗi đau thì niềm hạnh phúc mới dịu vợi
Ai cũng có một quê hương!
Ai cũng có một nơi chôn nhau cắt rốn
Từ thưở lọt lòng “đỏ hỏn”
Ai cũng có một phần máu thịt để lại nơi đây!
Không nơi đâu sâu nặng hơn nơi nầy
Quê Hương
DÒNG SÔNG TUỔI MẸ
(1)Khi mẹ sinh con đã có dòng sông
Dòng sông ấy đã chảy qua đời Mẹ
Tháng năm dài con sông dâu bể
Nắng dãi mưa dầm đời Mẹ gian truân
Từng gánh nước oằn vai,lưng còng vai nặng
Trún cho con ngụm nước quê mình
Tắm cho con khí linh của Ô lâu trường thuỷ
Mẹ hiền ơi muôn thuở ân dày
Khi nắng hạn khi mưa dầm
Khi nước lớn khi nước rong
Nước rong Mẹ còng lưng tát nước
Nước lớn lụt về Mẹ xuôi ngược lo toan
Thân cò lặn lội gian nan
Biển sông đời Mẹ cơ man nhọc nhằn
Mẹ thường bảo quê người chẳng đặng
Sông nước mình nghĩa nặng tình sâu
Thuở ấy bên sông ánh trăng vàng
Mẹ ngồi trải tóc khúc sông trăng
Sông trăng thổn thức lòng xao xuyến
Rộn rã bên đời một nét thơ
Cũng từ dạo ấy giửa hai bờ
Bên bồi bên lỡ vấn vương tơ
Ô lâu xanh thẳm mang tình Mẹ
Sông lại đêm về ôm bóng trăng
Bóng trăng xào xạc xao lòng Mẹ
In dấu duyên tình khúc sông trăng
Từ tình yêu ấy Mẹ sinh con
Khi Mẹ sinh con đã có dòng sông
Sông vẫn chảy đời sông bình lặng
Chỉ dạt dào khi mưa đổ triều dâng
Mẹ vẫn khổ khi con đông nhà khó
Có bao giờ được bình lặng như sông.
(2) Bến Ô lâu ai sầu ai thảm *
Mang nặng cuộc tình dĩ vảng mong manh
Chiều về nghiêng bóng đa xanh
Gió lùa sông vắng nắng hanh sông vàng
Trách chi một chuyến đò ngang
Ai về bên ấy bẽ bàng tình ai
Dặm dài bước một bước hai
Cây đa bến cộ sầu ai ai sầu?
Lững lờ con nước chảy ngang
Con cá bay nhảy rộn ràng mưa qua
Cá ơi ngọt nước canh cà
Quê hương ấm dịu mặn mà rau tương
Con trâu mẹp nước bên đường
Miệng cười nhai lại chút hương cỏ đồng
Ô lâu sông của dòng sông
Dòng sông tuổi Mẹ mặn nồng tình yêu
Chuyện kể:Có chàng thư sinh xứ Nghệ vào Huế học thi,khi đi ngang qua sông Ô lâu trên chuyến đò ngang đã bén tình với cô lái đò.Khi công thành danh toại trở về bến xưa tìm lại người yêu thì người yêu đã chết sau bao ngày mòn mỏi đợi chờ.
(3)Lời nàng thề hẹn với chàng*
Bao năm chờ đợi ngày càng xa xăm
Đêm rằm ngơ ngẩn dưới trăng
Nhìn bên bờ thấy chàng rằng đò ơi
Vội vàng đò vượt ra khơi
Thấy trăng sáng!trời ơi không phải chàng
Rã rời lơ lững đò ngang
Nhảy sông tự vẩn tìm đàng"cỏi âm"
ST:Nguyễn Văn Hiền
*Chuyện kể:Nàng chờ đợi mỏi mòn bổng một hôm ngồi bên nầy nghe có tiếng gọi đò qua sông,nàng thấy ai giống bóng chàng về vội vàng chèo đò sang đón,ra giửa sông nhìn không thấy ai,cũng do trông đợi mỏi mòn mà mường tượng vừa buồn vừa tủi thân nàng đành nhảy sông tự vẫn,khi chàng về nghe thân sinh của nàng kể lại.Chàng đành mang kiếp chèo đò để nuôi cha già của nàng đến hết đời của mình nên mới có câu ca dao Cây đa bến cộ nay người khác đưa!
Ngày 21-04-2011 Nguyễn Văn Hiền Sưa Tầm và đăng bài
ĐÔNG VỀ
Bâng khuâng tựa cửa nhìn trời
Lá vàng mấy ngọn rụng rơi la đà
Gió lùa tung hạt mưa sa
Ngỡ rằng Thu ở hoá ra Đông về
Mây dài một dải lê thê
Cuốn mây gọi nắng,nắng che chẳng luồn
Gió lùa tung cánh muôn phương
Lấy chăn che gió,gió luồn qua chăn
Đông về nhiều nỗi băn khoăn
Nhở năm thơ dại thương Lăng(*)dãi dầu
Thàng ngày nỗi nhớ in sâu
Trăm năm xin được ghi câu ân tình
(*) Người bạn đời của tác giả
Nguyễn Văn Đắc(2002)
VAY
Vay Xuân một cánh mai vàng
Vay Hạ nắng ấm gió ngàn hương bay
Vay Thu mấy ngọn lá bay
Vay Đông hơi lạnh gió bay phập phòng
Vay ngàn ánh nắng mông lung
Vay Đêm một ánh trăng vàng dịu êm
Vay Sông một chuyến đò đêm
Vay Biển ngọn sóng dâng lên ngút ngàn
Vay Em một phút ngỡ ngàng
Vay Quê hương điệu hò khoan dập dìu
Vay Bạn bè chút hãnh kiêu
Vay Đời thân phận lắm điều bể dâu
Vay nhiều trả được bao nhiêu
Vay bao nhiêu nợ bấy nhiêu ân tình.
Nguyễn Văn Đắc(2003)
ĐỢI 
Em không đến thị lòng anh vẫn đợi
Bởi dẫu sao em cũng đã hẹn rồi
Em đến muộn nhưng lòng anh vẫn sớm
Bởi hẹn hò đâu có tuổi thời gian
Bước song hành mà kẻ trước người sau
Nên điểm hẹn vẫn chân trời bỏ ngỏ
Anh vẫn đợi để ngàn sau hoá gió
Thổi hương thơm bắc nhịp điểm hẹn hò

Nguyễn Văn Đắc
   Email  
 


Cảm nhận:


1. Cảm nhận từ: nhím con [Blogger] Email 09.02.12@12:50
"Quê hương là gì hở mẹ?
Mà cô giáo dạy phải yêu?
Quê hương là gì hở mẹ?
Ai đi xa cũng nhớ nhiều."
(Đỗ Trung Quân)

Mẹ và quê hương mãi trong tim chúng ta!

2. Cảm nhận từ: Trương Thúc Tránh [Bạn đọc] Email24.05.12@21:22
Con trâu mẹp nước bên đường!- Ui câu ni nghe hay thiệt

MỘT LÀNG QUÊ GIÀU TRUYỀN THỐNG VỀ LỊCH SỬ

Link cố định 10/03/2012@11h24, 750 lượt xem, viết bởi: 


MỘT LÀNG QUÊ GIÀU TRUYỀN THỐNG
Từ ngả ba làng Lương Điền thuộc xã Hải Sơn đi về hướng đông theo bờ sông Ô Lâu 4,2km đến đó là làng Văn Quỹ đầu làng có cổng chào xây bằng bê tông cốt thép rất kiên cố và đẹp,Làng được thành lập vào thế kỷ 15 Thời hậu lê đời Vua Lê Thánh Tông.
Để tri ân quý Ngài Khai Khẩn và khai canh lập ra làng Văn Quỹ Ba Ngài của họ Lê,Nguyễn ,Đổ truyền thống từ xưa để lại được vinh danh tôn thờ là thượng miếu hạ mộ và có các ngày huý kỵ được làng tế lễ hàng năm.Và ba Ngài Khai Canh Trần,Ngô,Phạm, Qua hai cuộc kháng chiến hầu hết những nhà thờ họ đã bị san bằng sau ngày hoà bình bà con đã che tạm tranh tre để lo hương khói và tế lễ hằng năm sau khi khoán 10 ra đời mức thu nhập của bà con đã khá dần lên ngày được cải thiện thì từ làng,Họ đều được xây dựng mớithờ tự rất khang trang những ngày giỗ tổ của các Họ con cháu nội ngoại tập trung về dự lễ đông đủ và trở thành ngày truyền thống ai đi xa cũng nhớ ngày giổ Tổ mà về, ngày nay con cháu của các dòng tộc ở khắp mọi miền đất nước luôn nhớ về cội nguồn nơi chôn nhau cắt rốn mặc dù đi làm ăn xa nhưng luôn nhớ câu Li hương bất li Tổ.

Họ Lê tế Xuân Thủ vào ngày 21 tháng 2 và ngày chánh kị vào ngày 18-19 tháng 5 Âm lịch. Trong hai lần tế lễ được tuyên đọc bài Văn là Hiển Thỉ Tổ Khảo Khai khẩn bổn Thổ lập phường Kinh Triệu Quận chính trực Lê Đại Lang Khâm mông sắc phong dực bảo Trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần.
Họ Nguyễn tế Yến Quân vào ngày 26-2 và chánh kị vào ngày 16-17-tháng 8 Âm lịch.Trong bài văn tế lễ được tuyên đọc bài văn là Hiển Thỉ Tổ khảo Khai Khẩn bổn thổ Trần Lưu Quận Quả cãm đại Tướng Quân Khâm mông sắc phong dực bảo Trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần:
Họ Đổ tế lễ Điền Bạn ngày 8-2 chánh kị ngày 12-12 tháng 8 trong hai lần tế lễ được tuyên đọc bài văn tế là: Hiển Thỉ Tổ Khảo Khai Khẩn Đô Thái Giám Đổ Đại Lang khâm Mông sắc phong dực bảo Trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần:
Họ Trần chánh kị ngày 16-17 tháng 4 tuyên đọc bài văn tế là Hiển Thỉ Tổ Khảo Khai Canh Dỉnh xuyên quận Trần Đại Lang Khâm Mông sắc phong Dực bảo Trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần:
Họ Ngô chánh kị ngày mồng 5-6 tháng Chạp tuyên đọc bài văn tế là Hiển Thỉ Tổ Khảo Khai Canh Bột Hải Quận Ngô Đại lang Khâm mông sắc phong dực bảo Trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần:
Họ Phạm chánh kị ngày mồng 6-7 tháng 10 tuyên đọc bài văn tế Hiển Thỉ Tổ Khảo Khai Canh Cao bình quận Phạm Đại Lang Khâm mông sắc phong Dực bảo Trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò Tôn Thần:
Một làng quê mà sử sách đã ghi lại trong cuốn Ô châu cận lục của Thượng thư triều nhà Mạc Phúc Nguyên(1547-1553) Tiến sỷ Dương Văn An người quê ở xã Tuy Lộc,huyện Lệ Thuỷ,Tỉnh Quãng Bình ông đổ Tiến sỷ khoa đinh mùi 1547 ông đã viết rất rỏ về Xã Văn Quỹ có lẽ ngày xưa tác giả đã nhiều lần về nơi đây mới tận tường biết rỏ “Kẻ sỷ trung nghĩa Văn Quỹ thà chịu cắt tai chứ không theo giặc”Trong những năm dưới triều chúa Nguyễn gia phả các giòng họ trong làng đã ghi lại rất nhiều bậc làm quan thời đó hiện nay có 5 ngôi mộ cổ mà nhiêu nơi thường gọi là mã tàu,mả vôi được xây bằng chất liệu vôi hàu với mật có được ba ngôi tên tuổi rỏ ràng một ngôi là Quan cai hợp tên là Trần Quý Công quản lí thu thuế và cấp phát lương thuộc địa phận Quãng Nam,một ngôi là Tướng Thần Lý Tài Tử Nguyễn Văn Trung và một ngôi là Tri huyện Thái Hoà Tử Nguyễn Văn Nô...các ngôi mộ này hầu hết còn nguyên vẹn nhưng do thời gian và biến đổi của thời tiết lũ lụt nên hai ngôi đã bị vùi lấp khá sâu,sau lần đoàn khảo cổ thuộc viện khảo cổ miền trung về tìm hiểu và đề nghị uỷ ban nhân dân tỉnh Quãng Trị và được sở Văn hoá thể thao du lịch đã công nhận và cấp bằng là mộ cổ thời các chúa Nguyễn là di tích cấp Tỉnh hiện nay được treo tại nhà sinh hoạt văn hoá thôn,
Từ khi quý Ngài Thỉ Tổ của sáu họ vào đây, khai hoang phá thạch và dựng lên xã Văn Quỹ đã trải qua hơn 5 thế kỉ từ những năm đầu chắc chắn là người dân làng rất vất vả chưa có nhà cửa,dân cư ăn ở thưa thớt điều kiện sinh hoạt và dịch bệnh đau yếu không có thầy lang nghỉ đến đây thì chúng ta biết là sự kiên trì để sinh tồn của tổ tiên mà hôm nay hậu duệ như chúng ta bây giờ được thừa hưởng ta mới hình dung là ngoài sức tưởng tượng và Tri Ân quý bậc tiền nhân đã khai khẩn lập ra làng Văn Quỹ.
Ngày nay con cháu hậu duệ của làng Văn Quỹ sinh sống trên mọi nẻo đường đất nước và nước ngoài luôn nhớ về quê hương một làng quê rất giàu truyền thống về lịch sử và văn hoá,/,
Ngày 10/3/2012
Nguyễn Văn Hiền

MÁI TRƯỜNG XƯA :TRƯỜNG MẨU TÂM 

MÁI TRƯỜNG THÂN YÊU

Trường Mẩu Tâm làng Văn Quỹ được ty giáo dục tỉnh Quảng Trị củ công nhận là trường dạy học sinh lớp ba, tư, nhì, nhất vào những năm 1950 đến năm 1963 cho tất cả lứa tuổi học sinh bậc tiêủ học của các làng Văn Quỹ, Văn Trị, Hưng Nhơn. 
Hàng năm thi hết cấp theo từng cụm các xã Hải văn, Hoà, Sơn, Chánh, Trường, Thọ và các xã Hải Thiện,Thành, Dương, Quế....tại trường Diên Sanh thuộc xã Hải Thọ học sinh học trường Mẩu Tâm năm nào cũng có học sinh đi dự thi đều đổ trên 90% điểm rất cao được ty giáo dục Tỉnh cấp chứng chỉ tốt nghiệp như các trường công lập khác.
Giáo viên dạy không có nam mà toàn các chị nhà phước được đào tạo qua trường dòng ở Phú Cam Huế trình độ rất cao dạy rất bài bản kỉ luật rất nghiêm học sinh nhác học các môn và không thuộc bài kiểm tra chiều cuối tuần khi tan học bị treo sau lưng một tấm bảng là” nhác học bài ham chơi” nên tất cả học sinh chúng tôi đều phải chăm học không dám chơi bời lêu lổng, học sinh nào mà bị treo bảng cuối tuần nhiều lần là sáng thứ hai đầu tuần chào cờ tất cả học sinh các lớp vào học, riêng học sinh đó bị phạt quỳ giửa sân có khi cả buổi mới cho đứng dậy.
Mổi ngày học hai buổi sáng và chiều hai buổi học đều có giờ nghỉ ra chơi chúng tôi chơi rất nhiều trò học sinh nam thì đánh bi, đánh đáo, đánh căng cù, ù mọi, trốn tìm, nữ thì nhảy dây, chơi ô làng v.v.v
Vào dịp nghỉ hè trường tổ chức đi tham quan do các Chị giáo viên hướng dẩn lớp đưa đi ra biển Mỷ Thuỷ cắm trại và ở lại tại nhà thờ Hội Yên nơi cha Ái quê làng Văn Quỹ quản nhiệm và đi viếng nhà thời La Vang hái Lá vằng mang về nhà nấu uống hồi đó các đồi ở đó rất nhiều lá vằng.
Khi tốt nghiệp xong anh em chúng tôi ai có điều kiện thì học tiếp lên bậc trung học qua trường Ưu Điềm có người được vào Huế học đại đa số là ở nhà giúp gia đình lo làm ăn.
Ngôi trường Mẩu Tâm đã đào tạo ra rất nhiều người tài giỏi ở trong làng và các làng lân cận, chúng tôi không dám so sánh các trường trong tỉnh nhưng trường cũng danh tiếng một thời so vơí các trường Công lập trong các xã của quận Hải Lăng hôì đó vào thập niên 50 và 60 của thế kỉ trước do giáo xứ Kẻ Văn thành lập.
Đến khi biến cố đảo chánh Ngô Đình Diệm 1963 qua năm 1965 về sau này quê hương xảy ra chiến tranh nên trường đã bị bom đạn san bằng chỉ còn là đống gạch vụn từ đó trường Mẩu Tâm chỉ còn là trong kí ức của những ai đã được đào tạo qua ngôi trường nầy. Lứa tuổi từ 60 đến trên 70 như chúng tôi dù ở xa quê hay đang ở quê mổi lần đi ngang qua nhà thờ đều nhớ đến mái trường thân yêu mà mổi ngày hai buổi cắp sách đến trường học thời niên thiếu những năm tháng mà không ai có thể quên đi được.


Quê hương, Làng xã, Thôn xóm, Họ hàng. Chùa, Nhà Thờ nay vẫn còn và phát triển hơn xưa nhiều nhưng trường Mẩu Tâm thân yêu đã mất hẳn không còn tên tuổi, muốn ghé thăm mái trường xưa và bạn bè gặp nhau để hàn huyên tâm sự chuyện củ cũng không có nơi mà gặp mặt.
Trải qua bao năm tháng thăng trầm của quê hương chiến tranh bom đạn rất khốc liệt mà nhất là những năm từ 1966 đến 1972 có những năm ở làng không có người ở, đến ngày đất nước hoà bình thì giáo xứ và nhà thờ không có điều kiện xây dựng lại được trường Mẩu Tâm như xưa mà chúng tôi hằng mong ước.
Hiện nay lứa tuổi trên 60 như chúng tôi hầu hết đã đi xa quê mổi lần điện thoại nói chuyện đều luôn nhớ về trường Mẩu Tâm mà tuổi thơ đã gắn bó học tập với nhau mà cãm nhận về Quê Hương Văn Quỹ mến yêu./.
Ngày 06 tháng 04 năm 2012
Nguyễn Văn Hiền
   Email  


MỘT SỐ BÀI THƠ TRONG TẬP THƠ CÁI RỐN

Link cố định

HÀ NỘI KÍ ỨC MỘT NGÀY
Bởi một lẽ lần đầu ra Hà nội
Nên ngại ngùng,bối rối mông lung
Cây cao xanh giữa phố xá điệp trùng
Người xe cộ như nối cùng một thể
Hà Nội xưa sao ta nghe quen thế
Dẫu đôi lần mới nghe kể về em
Sáng Ba Đình rời ngập nắng thuỷ tinh
Chiều Hoàn Kiếm gió mơn làn sóng bạc
Đêm hoa đăng đêm ngập tràn sao sáng
Sao trên trời sao ngự giữa trần gian
Ta mặc khải chiêm bao về xứ lạ
Phút xao lòng em bỗng hoá trong ta
THẦY TRÒ
“Kính tặng thầy Phương”
Khi tóc thầy còn xanh
Đầu chúng tôi đã bạc
Buik phấn bay man mác
Tóc thầy cũng điểm sương.
GIỌT LỆ VU QUY
Ngày em đi lấy chồng
Hoa mướp vàng trước ngõ
Ang ngập ngừng đứng đó
Nhìn giọt lệ vu quy
CẢM GIÁC VỀ NGÀY SINH CHÁU NỘI
Tiếng khóc o oe cháu chào đời
Từ nay ông nội há phải chơi!
Thế mà cứ ngỡ ông còn trẻ
Tóc bạc nhuộm xanh quả yêu đời
Tiếng khóc o oe cháu chào đời
Từ nay bà nội ắt phải thôi
Thôi ghen ,thôi nũng,thôi đủ thứ
Thôi thế thì thôi,thôi thế thôi
Từ nay ba cháu có lứa đôi
Ông đây như mất đứa con rồi
Nay con ông lại vừa sinh cháu
Ông lại mất thêm vợ nữa rồi
Từ ngày Mẹ cháu mới sánh duyên
Ông đây lại được đứa cháu hiền
Mất con được cháu dâu hiền thảo
Kết nối thông gia với bạn hiền
Sáng sớm hôm nay cháu chào đời
Ông mừng ông nói vậy thế thôi
Tình thương của nội dành cho cháu
Đích tôn đích thực Nụ Hoa Đời
Nguyễn Văn Đắc
   Email  

LỄ KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ KẺ VĂN LÀNG VĂN QUỸ

Link cố định 11/05/2012@17h13, 426 lượt xem, viết bởi: 
Chuyên mục: Hinh anh que huong
MỪNG LỄ CUNG HIẾN THÁNH ĐƯỜNG GIÁO XỨ KẺ VĂN
TƯỚC HIỆU DÂNG KÍNH THÁNH GIUSE LÊ ĐĂNG THỊ
Sau gần ba năm khởi công xây dựng đến nay đã hoàn thành cha quản xứ Trần Văn Quang cùng với hội đồng giáo xứ đã long trọng tổ chức lễ cắt băng khánh thành với sự hiện diện của đức cha Tổng giám mục giáo phận Huế và nhiều vị LM trong và ngoài tỉnh đã về dự.
Vào lúc 9 giờ ngày 10 tháng 5 năm 2012
Chương trình buổi lễ
Từ 7 giờ đến 9 giờ đón khách
Từ 9 h đến 11h lễ khánh thành 11h liên hoan thân mật
           Khách mời đại diện Toà tông giám mục Huế. Đại diện chính quyên tỉnh Quảng trị.Sở công An tỉnh, Công an huyện Hải Lăng, UBND xã Hải Tân và Xã Hải Hoà. Thôn văn quỹ , BCH Làng và các họ tộc.đại diện các khuông giáo hội Phật giáo Câu Nhi,Văn Quỹ,Văn Trị ,Hưng Nhơn, An Thơ, Phú Kinh.
           Đúng 9 h đức Cha Tổng giám mục cha quản xứ Trần Văn Quang và ông Trần Thắng Ngọc cắt băng khánh Thành sau lễ cắt băng mở cửa giáo đường đức Cha Tổng đã trao chìa khoá nhà thờ cho cha Quản xứ sau đó tất cả khách mời và giáo dân Kẻ Văn,Kẻ Vịnh,An Thơ,Hội Điền,Phú kinh vào dự lễ trong nhà thờ. Và rất nhiều bà con trong giáo xứ đã xa quê từ năm 1960 nay cũng về dự đông đủ.
           Trong buổi lễ CUNG HIẾN xong giáo xứ tổ chức cung nghinh cốt thánh và di ảnh của Thánh tử đạo Ngài Lê Đăng Thị vào đặt thờ trong nhà thờ rất trang trọng trước bàn thờ Chúa.Các nghi thức lễ xong Đức Tổng giám mục phát biểu cám ơn các cấp chính quyền đã tạo mọi điều kiện để giáo xứ tổ chức buổi lễ được thành công tốt đẹp và rất hoan nghênh bà con lương giáo sông đoàn kết chan hoà trong tình cảm với nhau.Sau đó ông Trần Thắng Ngọc thay mặt hội đồng giáo xứ cám ơn đức cha Tổng và các cấp chính quyền, làng , Họ, các khuông giáo hội Phật Giáo đã đến tham dự.
           Đúng 11h Giáo xứ mời khách cùng với bà con giáo dân dự bửa tiệc thân mật ước tính gần 800 người đã về dự. Sau lễ khánh thành vào lúc 13h30 cha quản xứ Trần Văn Quang sẻ về làm lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Hôị Điền thuộc địa phận xã Hải Hoà ,/.
Ngày 10 -05 2012 Nguyễn Văn Hièn

NGHỆ SỶ HỒNG TUYẾT GIỌNG CA MỘT THỜI

NGHÊ SỶ HÔNG TUYẾT GIỌNG CA MỘT THỜI


Âm sắc

Huế  TRT - 24/04/2010
Nghệ sĩ Hồng Tuyết - Giọng ca một thời
       Tình yêu Ca Huế trong bà đã trở thành máu thịt, cần thiết hàng ngày như hơi thở, như cơm ăn, nước uống. Ca Huế đã nuôi dưỡng tâm hồn bà, Ca Huế là chất men sống của bà trong suốt hơn 50 năm qua.
Những giọng ca vàng của Ca Huế một thời nay họ đang làm gì? Câu hỏi ấy ít nhất một lần đã đến với mỗi chúng ta khi nghĩ về những người đã giữ nhịp cầu ca Huế từ những tháng năm trầm lắng để có bước thăng hoa của Ca Huế hôm nay. Trong số những gương mặt nghệ sĩ vang bóng một thời của ngày xưa ấy, hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu đến quý vị và các bạn nghệ sĩ Hồng Tuyết- người đã có hơn 50 năm gắn bó cùng ca Huế với một giọng ca đặc biệt riêng và đầy cá tính.
         Năm nay đã gần 70 tuổi thế nhưng giọng hát của bà vẫn còn ấm và vang lắm. Tình yêu Ca Huế trong bà đã trở thành máu thịt, cần thiết hàng ngày như hơi thở, như cơm ăn, nước uống. Ca Huế đã nuôi dưỡng tâm hồn bà, Ca Huế là chất men sống của bà trong suốt hơn 50 năm qua.
Nghệ sĩ Hồng Tuyết sinh năm 1942, tính đến nay bà đã 68 tuổi. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về nghệ thuật: ông ngoại là một nghệ sĩ tài hoa, bố là nghệ sĩ Nguyễn Văn Giáo – một trong bốn nghệ nhân đàn nhị nổi tiếng của các đoàn hát Kim Sanh, Kim Thịnh, Thái Mộng Đài thời những năm 1950... nên từ nhỏ nghệ sĩ Hồng Tuyết đã gắn bó với tiếng đàn, tiếng hát, với ánh đèn sân khấu. Cuộc đời hoạt động nghệ thuật của bà được mở ra bằng vai tỳ nữ trong vở diễn An Tư quận chúa vào năm bà mười bốn tuổi. Năm 16 tuổi, bà là diễn viên của đoàn Ca Kịch Trị Thiên và từ đây, cuộc đời bà bắt đầu gắn chặt với những thăng trầm của dòng ca nhạc Huế.
          Năm 1957, Đoàn Ca Kịch Huế được thành lập tại Khu 4, cha của bà được ngành văn hóa triệu tập về đoàn, lúc này bà mới 15 tuổi cũng theo cha vào Đoàn. Chỉ sau một năm vào Đoàn, lúc ấy mới 16 tuổi, bà đã được phân một số vai chính trong các vở có đề tài lịch sử cổ xưa cho đến thời hiện đại. Những năm 1960-1970 là khoảng thời gian nghệ sĩ Hồng Tuyết sống hết mình với nghệ thuật và vì nghệ thuật. Cùng với nhiều anh chị em  văn nghệ sĩ khác, bà xung phong vào phục vụ ở tuyến lửa nam Quảng Bình- Vĩnh Linh. Trong khó khăn của cuộc sống chung, tài năng của bà ngày càng chín. Năm 1963, bà vinh dự cùng Đoàn Ca Kịch Huế biểu diễn tại Phủ Chủ tịch trong dịp Bác Hồ tiếp phái đoàn quân sự của Trung Quốc. Bức ảnh này bây giờ đã trở thành niềm tự hào của gia đình bà.
         Trong nghề Ca Huế, nghệ sĩ Hồng Tuyết được đánh giá là người có một chất giọng quý, trường hơi. Bà có giọng ca mượt mà truyền cảm dễ đi vào lòng người và có thể ca điêu luyện các làn điệu từ lý cổ bản, lý giao duyên, lý cây roi, lý quỳnh tương đến các điệu hò mái nhì, mái đẩy, nam ai, nam bình.
         Năm 1976, nghệ sĩ Hồng Tuyết trở về Huế tham gia vào đoàn Ca Kịch Huế Bình Trị Thiên. Năm 1980, bà chuyển ra Hà Nội, công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, phụ trách tổ ca Huế. Thời gian này bà đã đi diễn khắp Hà Nội. Một giọng ca Huế ngọt  ngào xuất hiện giữa lòng Hà thành, đem Ca Huế đến với Hà Nội , tiếng hát của bà đã góp phần giới thiệu vẻ đẹp cuả Ca Huế bên cạnh vẻ đẹp của Quan họ Bắc Minh, của Chèo, của Cải lương. Nhà thơ Vũ Đình Liên, nhà giáo nhân dân- khi nghe nghệ sĩ Hồng Tuyết ngâm Kiều đã viết lời đề tặng “ Nàng là ai! Tiếng hát thần tiên/ Núi Ngự sông Hương nhạc ảo huyền/ Có phải Nguyễn Du giọng hát ấy/ đã nghe hòa bạc mệnh Kiều thiên”.
         Không chỉ được khán giả ghi nhận tiếng hát của mình, Nghệ sĩ Hồng tuyết còn được nhận nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương kháng chiến hạng nhì năm 1997, huy chương chiến sĩ văn hóa, huy chương vì sự nghiệp văn hóa quần chúng, 3 Huy chương vàng trong các liên hoan nghệ thuật  cùng nhiều bằng khen khác.
         Ngày nay, các con và cháu của bà cũng đi theo con đường nghệ thuật. Cả gia đình bốn thế hệ liên tiếp đang giữ lửa Ca Huế, đang góp phần vun đắt cây tình yêu Ca Huế, nhạc Huế .
Phòng Văn nghệ TRT
NGUYỄN VĂN HIỀN SƯU TẦM VÀ ĐĂNG BÀI

   Email  
    

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

NĂM NGÔI MỘ CỔ THỜI CHÚA NGUYỄN LÀNG VĂN QUỸ

MỘ NGÀI TRI HUYỆN THÁI HÒA TỬ NGUYỄN VĂN NÔ
KHU DI TÍCH MỘ CỔ LÀNG VĂN QUỸ
Di Tích Lịch Sử:Khu Lăng mộ Quảng Trị -du lịch trong lòng di tích...
Nằm bên bờ Bắc sông Ô Lâu, thuộc làng Văn Quỹ,xã Hải Tân,huyện Hải Lăng,tỉnh Quảng Trị,có một khu nghĩa trang của làng xã, giống như những nghĩa trang khác,đây là một vùng đất hoang vắng, xa đường cái ít người qua lại,có chăng chỉ là những đứa trẻ chăn trâu.
Nhưng vừa qua, trong một cuộc du ngoạn điền dã,những người nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu văn hoá dân gian miền Trung đã phát hiện được một nhóm 5 ngôi mộ kỳ lạ nằm rải rác trên diện tích khoảng 1.000m²,xen lẫn với những ngôi mộ mới ngày nay. Thoạt nhìn, những ngôi mộ này không có gì đặc biệt,chúng bị chìm lấp trong cây cỏ bờ bụi mọc um tùm,lâu ngày không ai để ý.Hơn nữa,cùng với thời gian,một lớp đất dày đã lấp dần lên những bờ tường của thành lăng và những nấm mồ,nên hình dáng lăng mộ xưa không còn được rõ nét.Những lăng mộ này được xây bằng vôi trộn mật,không có cốt gạch với hợp chất xây còn giữ lại nhiều vỏ hàu hến chưa giã nát có thể nhận ra dễ dàng.Đây là loại vật liệu thường thấy ở các lăng mộ rải rác trên các nghĩa trang miền Trung, mà người dân thường gọi là ma Tàu hay ma Vôi.
Nhưng điều đáng chú ý là mỗi nấm mồ lại được đắp thành một hình khác nhau, có dáng dấp như một công trình điêu khắc hoàn chỉnh. Ngôi mộ thứ nhất có hình con rùa,với đầu, mai rùa và khoảng cách từ mai đến chân được phân định rõ ràng.Mộ thứ hai có hình quả đào,có thể nhìn thấy đường lõm chạy theo chiều dọc trên thân quả,các chi tiết ở đầu và cuống đều được thể hiện chân thực. Một ngôi mộ khác có hình lá sen đặt úp với những đường gân lá nổi lên rõ rệt..
Bao quanh nấm mồ là tường lăng, cung được xây bằng cùng thứ vật liệu như mộ. Các trụ cửa được xây theo một phong cách giống nhau, trên mặt trước của lăng số một còn thấy hai bức phù điêu đắp nổi bằng vôi,phần lớn đã bị chìm lấp dưới đất,nhưng vẫn còn nhận dạng được một hình con lân với nét khắc sâu, dứt khoát mạnh mẽ.Muốn khảo sát kỹ khu lăng mộ này cần phải có thời gian đào bới để gạt bỏ lớp đất phủ bên trên.
Đây quả là một kiến trúc độc đáo,chưa từng thấy ở các lăng mộ phía Bắc cũng như phía Nam.Thông thường trong các lăng mộ,nấm mồ được đắp thành hình tròn (hoặc bầu dục)hay hình chữ nhật, tùy theo nơi và tùy theo thời gian.Thậm chí ngày nay có những nấm mồ được đắp cầu kỳ với hình cánh hoa sen xếp tròn,với nhiều hình dáng khác nhau,nhưng ít khi thấy tạo thành một tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh như ở đây. Đấy cũng là điều khiến những người khảo sát phải đi tìm để xác định xem đấy là lăng mộ của ai và ở thời nào?
May mắn là ở một ngôi mộ,còn phát hiện được tấm bia bằng sa thạch,tuy bị vỡ mấy chỗ nhưng vẫn còn đọc được chữ và những hoa văn trang trí hình “lưỡng long triều nhật”khá quen thuộc.Dòng chữ ghi trên bia là: "Đầu khảo Quang Nam Tướng thần lại ty Cai hợp Trần quí công chi mộ”.Không nghi ngờ gì nữa,đấy là mộ của một vị Cai hợp họ Trần,thuộc Tướng thần lại ty ở Quảng Nam - đấy là một chức quan dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Trong hệ thống cai trị của các Chúa Nguyễn, phủ Chúa có ba Ty,trong đó có Tướng thần lại ty. Đứng đầu Ty này là một vị Cai bạ và hai vị Cai hợp và Thủ hợp giúp việc, đảm trách việc thu thuế, chi phát lương thực cho quân các đạo.
Như vậy đã rõ một trong những lăng mộ này là của một viên quan dưới thời chúa Nguyễn, do “Hiếu tử nam nhi, nữ tứ đồng lập thạch" (hai con trai và bốn con gái cùng lập bia). Từ chỗ giống nhau của phong cách xây dựng, có thể suy ra rằng những ngôi mộ ở đây được chôn cất trong cùng thời gian, khi trị sở của các chúa Nguyễn còn đóng tại Dinh Cát ở Quảng Trị. Đó là thời gian các chúa mới vào lập nghiệp ở phía Nam đầu thế kỷ XVII, nếu mở rộng việc tìm kiếm, chắc chúng ta sẽ còn biết thêm những dấu tích khác về thời các chúa ở khu vực này.
Đây là một phát hiện quí. Vì những dấu vết vật chất thời các Chúa Nguyễn đến nay chỉ còn lại rất ít. Thời gian và những cuộc nội chiến đã khiến khá nhiều di tích bị hủy hoại, đặc biệt trên dải đất từ Quảng Bình đến Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Qua các lăng mộ này, ta biết thêm một phong cách mới trong việc xếp đặt nơi trở về cõi vinh hằng dành cho người đã khuất. Lăng mộ - nơi yên nghỉ của người quá cố phải là một nơi tĩnh lặng, và được xây dựng với tất cả tấm lòng quí trọng của người đang sống. Có thể xưa kia, khi người Việt mới khai phá, nơi đây còn là những khu rừng thiêng, cây cối um tùm, tạo nên không gian bao quanh kiến trúc của lăng mộ với những hình dáng đa dạng, càng làm tăng thêm không khí huyền ảo của nơi tưởng niệm.
Khu lăng mộ Quảng Trị tuy chỉ mới là một phát hiện khiêm tốn, nhưng sẽ là một chứng tích vật chất giúp ta tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đến nay còn ít được biết đến. Mong rằng trong tương lai, với vị trí cách thành phố Huế không xa, nơi đây sẽ trở thành một điểm tham quan cho những ai muốn trở về với những dấu vết văn hóa xưa của dân tộc.

MỘ NGÀI TƯỚNG THẦN LÝ TÀI TỬ NGUYỄN VĂN TRUNG


Nguồn: Congdulich (Theo Saigonnet)

Nguyễn Văn Hiền sưu tầm và đăng bài

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

LÀNG VĂN QUỸ QUÊ TÔI

LÀNG VĂN QUỸ - QUÊ TÔI 


BẢN ĐỒ DI TÍCH LÀNG VĂN QUỸ 
HOẠ SĨ VẺ"NGUYỄN BÁ VĂN"
CHÁNH ĐIỆN ĐẠI ĐÌNH LÀNG VĂN QUỸ
 
            Vào thời Hậu Lê thế kỉ XV, Mảnh đất này tổ tiên các dòng hộ của chúng ta từ miền bắc xa xôi vào nơi đây khai hoang phá thạch lập làng.Truyền thống để lại có sáu họ .Ba họ khai khẩn lập làng là Lê, Nguyễn, Đỗ. Ba họ khai canh Trần, Ngô, Phạm.trong đó ba họ khai khẩn lập làng là họ Lê, Nguyễn,Đổ.”Họ khai khẩn” Có miếu thờ riêng hàng năm Làng tố chức Tế lễ Họ Lê lễ Xuân thủ.Họ Nguyễn Lể Yến quân.Họ Đổ lể Điền bạn.Trên Miếu thờ dưới mộ phần của quý Ngài.
             Trãi qua bao thế kĩ thăng trầm của lịch sử,các đời Chúa Nguyễn trong làng cũng có nhiều bậc Tiền nhân làm quan trong triều khi qua đời đã được triều đình xây lăng mộ.Các đoàn khảo cổ đã xác định là mộ cổ vào thời chúa Nguyễn.Đã được Sở văn hoá thông tin Quảng Trị công nhận làng có 5 ngôi mộ cổ của thời Chúa Nguyễn thuộc di tích cấp Tỉnh. Khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 đã quy hoạch xây thành Phú xuân thì họ Nguyễn Văn được nhà Vua cấp chiếu chỉ về nhập tịch ăn ở cùng với làng và sinh sống cho đến ngày nay. Ba họ khai khẩn linh vị thờ tại Đình làng Hiển Thỉ tổ khảo khai khẩn bổn thổ lập phường chính trực Lê đại Lang. Hiển Thỉ tổ khảo khai khẩn bổn thổ quả cảm Đại Tướng quân cương nghị Nguyễn Quý Công. Hiển Thỉ tổ khảo khai khẩn Đô thái giám Đỗ Đại Lang. Ba họ khai canh Thờ Tại Đình làng Hiển Thỉ tổ khảo khai canh Dĩnh Xuyên Quận Trần Đại Lang. Hiển Thỉ tổ khảo khai canh Bột Hải Quận Ngô Đại Lang. Hiển Thỉ tổ khảo khai canh Cao Bình Quận Phạm Đại Lang. Vua Khải Định lên ngôi năm thứ hai Phong cho tất cả các dòng họ cũa các địa phương Làng văn Quỹ quý Ngài đều có miếu mộ rỏ ràng nên đều được phong là.Khâm mông sắc phong dực bảo trung hưng linh phò tôn Thần đến năm thứ chín gia tặng thêm hai chử Đoan túc tôn Thần. Riêng phong Thần thì sáu họ đều giống nhau. “Khâm mông sắc phong dực bảo Trung Hưng linh phò gia tặng đoan túc tôn Thần”. Sách Ô châu cận lục của học giả Dương Văn An tiến sĩ thời nhà mạc viết năm 1553 là Xã Văn Quỹ thuộc Huyện Hải Lăng. Nói đến người dân làng Văn Quỹ cũng rất anh hùng “Kẻ sĩ Trung nghĩa Văn Quỹ thà chịu cắt tai chứ không theo giặc”.
Từ xa xưa đầu làng là nhà Trường Thánh thờ tự tôn nghiêm có 2 câu đối ghi tả làng Văn Quỹ như sau: “Văn chương vạn thế trường tồn,thiên nhật nguyệt địa sơn hà.Á vủ Âu phong nan hối tắc” “Dịch nghĩa”Văn chương còn tồn tại mãi ngàn đời đất núi sông năm tháng,gió Âu mưa Á khó phai mờ “Quỹ phạm bách Vương bất dịch.Quốc quân thần gia phụ tử.Hán hưng tần diệt giả nan ô” “Dịch nghĩa”Phép tắc trăm Vua không đổi,nước có Vua tôi,nhà có Cha con,Đời hán hưng đời hưng tần diệt chẳng xấu hổ sao:vào những năm đầu thế kĩ XIX trước cũng có 2 câu đối ghi rõ về lai lịch của tiền nhân như sau:“Từ Bắc di lai hoan châu xứ Tiền nhân từ giả” “Tùng nam khai thác Văn Quỹ thôn Hậu Lê lập phường” Những câu đối trên và Dương Văn An viết về làng Văn Quỹ trong sách Ô châu cận lục.Người dân làng Văn Quỹ rất tự hào với truyền thống của quê hương từ khi lập làng cho đến nay.Chúng ta tìm hiểu lịch sử của làng vì sao làng Văn Quỹ lại có câu: “Văn chương vạn thế trường tồn, Thiên nhật nguyệt địa sơn hà. Á vũ Âu phong nan hối tắc, Quỷ phạm bách Vương bất dịch.Quốc quân thần gia phụ tử.Hán hưng tần diệt dả nan ô... Nếu các bậc tiền nhân không anh hùng gan dạ đoàn kết một lòng vì chính nghĩa phò Vua giúp nước thì làm gì để sách Ô châu cận lục ghi lại là: “Kẻ sĩ trung nghĩa Văn Quỹ thà chịu cắt tai chứ không theo giặc”.vào thời các chúa Nguyễn trong làng có những bậc làm quan điển hình như Ngài Nguyễn Văn Thứ Tướng thần thuận Nghĩa tử,Tướng thần Nguyễn Văn Chí,Bả lệnh ty Nguyễn Văn Hùng,Tri huyện Thái hoà tử Nguyễn văn Nô,Tướng thần lý tài tử Nguyễn Văn Trung,Tri huyện thái hoà Nguyễn Văn Sóc,Quán quân sứ sự thành hầu Nguyễn Văn Du,Cai án đàm luận bá Nguyễn Văn Mẫn,Tướng Cai hợp họ "Trần" Trần quý Công quản lý cấp phát lương thực và thu thuế cho Triều đình thuộc địa phận Quảng Nam,vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh (1624.1672)Lê sĩ Triệt ông đỗ tiến sĩ khoa Canh Thìn 1640,làm binh bộ tả thị lang vào thời các Chúa Trịnh và ông lê Sĩ Hậu

được chúa Trịnh Toàn và chúa Trịnh Tạc phong làm tướng nhiều lần cử đi dẹp giặc đánh Chúa Nguyễn ở sông Linh Giang ,rất tiếc là tôi chỉ biết đến đó vì không có được thêm thông tin về các giòng họ khác.
            Làng có bốn xóm: Thượng an,Đông an,Thái hoà,Phú Thọ mà người trong làng thường gọi xóm Đùng,xóm Trên,xóm Sau,xóm Giữa,ba xóm đều có nhà thờ của từng xóm,riêng xóm Sau hiện nay chưa có nhà thờ hằng năm vào dịp cúng Thanh Minh bà con đang thiết lễ cúng tại ngả ba Đất Thánh gần cồn Mồ,hàng năm vào ngày 16 tháng giêng âm lịch là cúng cầu an đầu năm.Đến ngày lễ Thanh minh làng cáo tại đàn âm hồn vào lúc 6 giờ sáng khỉ lệnh để các xóm tảo mộ cô hồn trong xóm ngày trước ngày hôm sau và bà con trong xóm dâng lễ vật đến nhà thờ âm hồn để cúng dường tất cả dân trong làng đều đến dự lễ. Ngoài sáu họ làng có một ngôi đình thờ phụng khang trang mặt trước thờ ba bộ hương án sơn son thếp vàng,hai bộ giá chiêng trống,hai bộ lổ bộ,hai bàn thờ cũng sơn son thếp vàng do anh Nguyễn Văn Lực ở Đông Hà cúng vào dịp tết Canh Dần năm 2010 ông Ngô Tấn Bửu ở Huế và một số anh em ở Đông Hà, Nha Trang cúng ba hàng câu đối ghi lai lịch làng,một số vật dụng thờ tự như tam sự bằng đồng hạc chầu,hai cặp đèn tiện băng gổ trắc.Gian giữa Thờ vị Thành hoàng làng,Bên tả thờ ba họ Nhất, Ba, Tư. bên hữu thờ ba họ Nhì, Năm, Sáu. Làng có nhà Âm hồn để thờ Hương linh Cô hồn quá vãng nhiều đời nhiều kiếp trước,hàng năm vào dịp lễ Thanh minh tổ chức tảo mộ Cô hồn và Lễ vật cúng tế tuỳ theo điều kiện kinh tế. Làng có một ngôi Miếu Thành hoàng thờ tự riêng trước nhà thờ Âm hồn về phía bên phải đứng trong nhìn ra trong khuôn viên rất rộng ngày lễ ngày tết làng đều cử một bác cựu trưỡng tộc hầu lạy.
Đình làng thường năm có ba lễ đầu năm lễ Cầu an vào ngày 16AL,Tháng sáu lễ cầu phước vào ngày 15-16 AL,tháng chạp lễ Tất Niên vào ngày 25AL và cũng là ngày đại hội hội người cao tuổi trong làng nên các cụ lão thành rất đông đủ lễ xong Làng dự hội thi hoa do hội người cao tuổi đứng ra tổ chức phong trào này đả có từ năm 1984.ngày 30 làng cúng tất niên và đón giao thừa,quý bác chức sắc và dân làng tập trung dự lễ.Dân làng đi theo tín ngưỡng 2/3 là người theo đạo Phật có ngôi Chùa thờ tự Trang nghiêm ngày Rằm và mồng Một bà con theo Phật đến chùa lể bái,phần còn lại theo đạo Ki Tô Giáo có nhà thờ từ vào năm 1908.Những năm chiến tranh chống Mĩ bị bom đạn đánh sập sau ngày đất nước thống nhất được xây dựng lại nhà cấp bốn lâu ngày đã bị xuống cấp và chật hẹp đến năm 2009 được Toà tổng giám mục giáo phận Huế đầu tư xây dựng lại rất rộng rãi và hiện đại,bà con giáo dân từ làng văn Quỹ Hưng Nhơn Phú Kinh Hội Điền ngày chủ nhật đến làm lễ,nhà thờ có một Cha xứ Giáo phận Huế bổ nhiệm về phụ trách.bà con lương giáo sinh sống với nhau rất đoàn kết.Ban chấp hành làng được cử 1 Bác làm Hội chủ,sáu bác Trưởng tộc và thủ biện làng chăm lo việc thờ cúng và tế lễ theo truyền thống hàng năm.Cảnh làng rất thơ mộng, phía trước uốn mình theo dòng sông Ô Lâu,phía sau là cánh đồng ruộng bao la cò bay thẳng cánh từ cạnh làng cho đến tận làng Cây Da thuộc xã Hải Thọ,đúng là một làng quê trù phú đất lành chim đậu nên Tổ tiên của chúng ta chọn nơi đây để lập làng sinh cơ lập nghiệp và để lại cho con cháu ngày nay/
 
SĂC PHONG NHÀ VUA BAN
                                                                                         Nguyễn Văn Hiền - DT 0982514942